CHƯƠNG 1 NHŨNG VÂN ĐỂ C ơ BẢN VỂ NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1- Cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1.1- Khái niệm cạnh tranh Cho dù có những quan niệm về cạnh tranh không hoàn toàn giống nhau, nhưng điều nổi bật lên những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh là: - Chủ thể tham gia cạnh tranh là các nhà sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ, gọi chung là doanh nghiệp; - Thủ pháp cạnh tranh là tìm ra những ưu thế vượt trội về nhiều mặt so với đối thủ; - Mục tiêu của cạnh tranh là chiếm lĩnh thị phần và đạt lợi nhuận ngày càng cao. Trong điều kiện hội nhập kinh tế, sự cạnh tranh không chỉ diễn ra trong mỗi quốc gia mà mang tính quốc tế, biến thị trường quốc tế thành một thị trường chung; không chỉ diễn ra ở một vài sản phẩm mà ở tất cả mọi loại hàng hoá, dịch vụ, những sản phẩm hoặc dịch vụ nào càng được bảo hộ thì càng trở thành "thị trường nóng" của cạnh tranh. Sự cạnh tranh quốc tế có thể đưa nhà cung cấp này lên hàng "đại gia" song cũng dê dàng đây đối thủ khác xuông vực thẳm phá sản. Xét về lơi ích chung thì canh tranh quôc tê là động lực phat tnen kinh tế thế giới và đưa lại lợi ích ngày càng tốt hơn cho người tiêu dùng.
Còn doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tìm được lợi thế cạnh tranh.2- Cạnh tranh của ngân hàng thương mại Hội nhập kinh tế nói chung và hội nhập tài chính - tiền tệ nói riêng đặt các doanh nghiệp vào tình thế phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. NHTM là loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, tất yếu phải cạnh tranh theo quy luật của thị trường. * 4 5 Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng là sự ganh đua giữa các chủ thê ngân hàng bằng cách sử dụng tổng hợp các thủ pháp, các yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng nhằm giành được phần thắng trên thị trường, đạt được các mục tiêu kinh doanh cao hơn các đôi thu khac. Khác với các loại doanh nghiệp khác, NHTM cạnh tranh với nhau trong một lĩnh vực nhạy cảm là tiền tệ nên sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hang có liên quan tới hầu hết các mặt của đời sống kinh tế, xã hội trong nước và ngoài nước.
Những đặc trưng của cạnh tranh NHTM: Một là các đối thủ cạnh tranh trong sự ganh đua nhưng cũng có sự hợp tác với nhau trong một lĩnh vực kinh doanh ngân hàng nhạy cam. Sự hợp tác gắn kết các ngân hàng trong một thị trường tiền tệ liên ngân hànơ noi cung - cầu tiền tệ được thể hiện qua việc kinh doanh vôn kha dụng. Các NHTM cũng phụ thuộc lẫn nhau trong mối quan hệ về dịch vụ thanh toán và các dịch vụ tín dụng hay phi tín dụng khác. Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh, tránh khả năng xảy ra rủi ro hệ thống.
Biểu hiện rủi ro hệ thống là sự thiếu khả năng thanh toan ơ mọt hay mọt số nơân hàng yếu kém, dẫn tới sự đổ vỡ hàng loạt ngân hàng theo lối dây chuyền do hiện tượng người người gửi tiền rút tiền ồ ạt. Các NHTM cạnh tranh với nhau gay gắt song cũng luôn phải hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo sự an toàn hệ thống. Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và thường xuyên của NHTW của mỗi quốc gia hoặc cua khu vực. Mỗi quốc gia đều có chính sách tiền tệ riêng của mình nhằm đảm bảo sự Ổn định của đồng tiền, vì vậy, bằng các công cụ riêng, các NHTW luôn phải tác động lên thị trường để định hướng hoạt động cho các NHTM.
Lãi suất tỷ ơiá là các công cụ tác động thường xuyên lên thị trường. * # 6 Bốn là, cạnh tranh ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố bên trong ngân hàng mà còn phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài ngân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ tầng cơ s ở. Năm là, cạnh tranh ngân hàng chịu ảnh hưởng thường xuyên của thị trường tài chính quốc tế. Những biến động tỷ giá dễ dàng làm cho các kênh dẫn vốn dịch chuyển không chỉ ở mỗi quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế.
Sự thay đối này có thê làm cho các ngân hàng nhỏ bé, yếu kém dễ bị tổn thương, đặc biệt là trong trường hợp các ngân hàng này cạnh tranh quá giới hạn an toàn.2- Cạnh tranh của NHTM trong hội nhập quốc tê về tài chính - tiền tệ 1.1- Đặc trung cơ bản của hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ Hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ về bản chất là quá trình mà các quốc gia, các khu vực thực hiện việc mở cửa cho sự tham gia lẫn nhau vào trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ tác động tới mỗi quốc gia trên cả 2 phương diện: Vĩ mô và vi mô. v ề vĩ mô, hội nhập sẽ giam dân sự khac biẹt giữa các quốc gia về thể chế và giám sát. v ề vi mô, hội nhập tác động tới các yếu tố cạnh tranh, thị trường trong kinh doanh.
Những đặc trưng cơ bản của hội nhập quốc tê về tài chính - tiên tệ: - Thứ nhất, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ là quá trình dịch chuyển các luồng vốn giữa các thị trường tài chính thông qua cac kênh dan von như đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Sự dịch chuyển này kéo theo cơ hội cho nước này song cũng dễ dàng gây ra hiểm hoạ khủng hoảng cho nuơc khac. - Thứ hai, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ vừa là hệ quả của sự tiến bộ khoa học, kỹ thuật trên thế giới, do sự tiến bộ này thúc ép, vừa là động lực cho sự ứng dụng và phát triển khoa học kỹ thuật. # t 7 - Thứ ba, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ kéo theo sự điều chỉnh về thể chê luật pháp, chính sách, chuẩn mực tài chính - tiền tệ ở mỗi quốc gia cho gần hơn với tập quán quốc tế.
Sự ra đời hàng loạt các quy chuẩn quốc tế (thể hiện tập trung nhất trong các nguyên tắc của WTO) làm cho các quốc gia đối xử với nhau bình đẳng hơn, minh bạch hơn. Đặc trưng này gây nên tác động cả 2 mặt (thời cơ và thách thức) nên các quốc gia thường tìm kiếm đường đi thích hợp bằng các "lộ trình mở cửa". - Thứ tư, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi tập quán kinh doanh tiền tệ để thích ứng với cơ chê thị trường cạnh tranh đồng nhất. Các rào cản bảo hộ trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ sẽ không thể giữ mãi để phục vụ riêng cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tài chính - tiền tệ của mỗi nước mà phải thay vào là các công cụ thị trường.
- Thứ năm, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ làm cho các quốc gia phụ thuộc nhau ngày càng nhiều hơn bởi sự "có đi, có lại" trong các giao dịch tài chính - tiền tệ cũng như trong sự giám sát của các tổ chức tài chính - tiền tệ mang tính quốc tế. Một điển hình là đồng tiền chung Châu Au ra đời đã biên Ngân hàng Trung ương của 11 quốc gia thành viên thành 11 chi nhánh của Ngân hàng Trung ương Châu Âu.2- Mức độ và xu thê hội nhập quốc tê về tài chính - tiền tệ của hệ thống NHTM Việt Nam 1.1- Các cam kết về mở cửa khu vực ngân hàng a- Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ đã được ký ngày 13/07/2000, trong đó các cam kết về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia đối với các Ngân hàng Hoa Kỳ sẽ được nới lỏng dần trong thòi gian 9 năm. Trong đó cũng có cam kết về tính minh bạch và việc tham vấn trong quá trình xây dựng chính sách tài chính và giải quyết tranh chấp sao cho rõ ràng, công bằng và kịp thời. Các cam kết chủ yếu về ngân hàng như sau: e 8 - Sau 3 năm thực hiện đối xử quốc gia đầy đủ về việc tiếp cận với các công cụ chiết khấu, hoán đổi và kỳ hạn của Ngân hàng Trung ương.
- Các ngân hàng Hoa k ỳ c ó thể hình thành các liên doanh VỚI các đ ô i tác Việt Nam với lượng cổ phần từ 30 đến 49%. Sau năm 2010 sẽ cho phép các công ty con 100% vốn nước ngoài. - Trong thời gian từ 8 đến 10 năm đầu thực hiện từng bước đối xử quốc gia một cách đầy đủ liên quan đến quyền của các chi nhánh Ngân hàng Hoa Kỳ trong việc nhận tiền gửi bằng VND từ các khách hàng Việt Nam. Hạn chế về tiền gửi bằng VND đã được tăng lên 100% số vốn đăng ký của ngân hàng (khi ký kết) và vào tháng 12/2003 hạn mức này đã được tăng lên đến 500%.
- Các định chế tài chính do Hoa kỳ đầu tư sẽ được phép phát hành thẻ tín dụng với điều kiện tương tự như các ngân hàng của Việt Nam sau 8 năm. Các cam kết khác theo phương thức 3 (hiện diện thương mại) bao gồm việc cho phép lắp đặt các máy rút tiền tự động (ATM), nới lỏng các quy định quản lý về hoạt động gửi tiền bằng ngoại tệ, sửa đổi các quy định vê việc sư dụng tài sản thế chấp là quyền sử dung đất đối với các TCTD nươc ngoai, va việc cho vay bằng ngoại tệ đối với khách hàng vay là người Việt Nam. Cac cam kết được quy định trong Chương m về Thương mại Dịch vụ, Phụ lục G - Các cam kết Chung và theo Lĩnh vực. Theo phương thức 1 về dịch vụ qua biên giới, đã có các cam kết trong các lĩnh vực về việc người Việt Nam sử dụng các dịch vụ ở Hoa Kỳ bao gồm kiều hối và cho phép các cá nhân và các công ty của Việt Nam ở Hoa Kỳ được vay vốn hoặc thuê mua tài chính từ các TCTD của Hoa Kỳ.
Trong lĩnh vực phi ngân hàng và thuê mua thì các công ty của Hoa Kỳ được sở hữu 100% vốn cổ phần từ tháng 12 năm 2005. Các công ty chưng khoán của Hoa Kỳ sẽ được phép mở các văn phòng đại diện ở Việt Nam.