Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm mà ở mỗi lĩnh vực sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng tựu trung lại vẫn là động thái đấu tranh của một người nhằm giành lấy phần thắng giữa nhiều chủ thể cùng tham dự. Trong kinh tế, cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản đồng thời cũng là động lực để nền kinh tế thị trường ngày một hoàn thiện và phát triển tốt hơn.
Theo Từ Điển Bách Khoa Việt Nam: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” (Vũ Văn Vụ và cộng sự, 2005). Cạnh tranh được phân thành nhiều loại với các tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường thì có cạnh tranh giữa những nhà sản xuất, giữa những người mua và người bán, giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giữa người mua với nhau. Căn cứ theo tính chất của phương thức cạnh tranh thì có cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Căn cứ vào hình thái của cạnh tranh thì có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh thì có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Tùy vào từng đặc thù của Doanh nghiệp mà các công cụ cạnh tranh trên thị trường có sự vận dụng khác nhau bao gồm: cạnh tranh về sản phẩm (mẫu mã, tính năng, chất lượng…); cạnh tranh về giá (giá thành, giá dịch vụ…); cạnh tranh về kênh phân phối bán hàng; cạnh tranh về khả năng dự báo và thích ứng với biến động của nền kinh tế. 5 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là những yếu tố thể hiện thực lực và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nếu hiểu tổng quát nó sẽ là khả năng của doanh nghiệp chống lại các lực lượng cạnh tranh trên thị trường. Theo mô hình 5 áp lực của M.Porter thì có 5 lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành, đó là: các đối thủ cạnh tranh trong ngành, các đối thủ tiềm năng, nhà cung ứng, khách hàng và sản phẩm thay thế. Khái niệm về năng lực cốt lõi và lợi thế cạnh tranh “Năng lực cốt lõi là tập hợp những kỹ năng và chuyên môn mà doanh nghiệp có thể thực hiện tốt hơn những khả năng khác trong nội bộ doanh nghiệp của mình, nhờ đó Công ty vượt hơn đối thủ cạnh tranh”. Năng lực cốt lõi phải thõa mãn tiêu chí VRIN, trong đó “V” – Valuable phải có giá trị với khách hàng; “R” – Rare Khan hiếm; “I” – Inimitable Khó bắt chước và “N” – Nonsubtituble không thể/khó có thể thay đổi (Micheal Porter, 1985).
“Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh” (Micheal Porter, 1985, trang 33). Có hai loại lợi thế cạnh tranh: + Dẫn đầu về giá (lợi thế về chi phí): điều này có nghĩa là doanh nghiệp đeo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được nhằm mở rộng và tăng trưởng thị phần để từ đó thu về lợi nhuận cao hơn so với các đối thủ cùng ngành. + Sự khác biệt hóa: là lợi thế mà doanh nghiệp có được từ việc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm, tính năng gia tăng của sản phẩm, chất lượng dịch vụ…độc đáo, tiện ích, thỏa mãn giá trị và tiêu chuẩn của khách hàng hơn so với các đối thủ.
Trong môi trường hội nhập kinh tế toàn cầu ngày nay, doanh nghiệp nào sở hữu và phát huy được càng nhiều lợi thế cạnh tranh thì càng có nhiều cơ hội bảo toàn và chiếm lĩnh thị phần hơn so với các chủ thể tham gia khác. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 6 Nhóm yếu tố này bao gồm sự tác động của phạm vi ngành – gọi là môi trường vĩ mô và tác động của môi trường vi mô. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô là môi trường mà thường các ngân hàng thương mại sẽ khó có thể kiểm soát được các yếu tố này nhưng có thể dự báo để biến các khó khăn, thuận lợi do chúng gây ra thành các cơ hội kinh doanh cho riêng mình. Các yếu tố này bao gồm môi trường kinh tế, chính trị - pháp luật, văn hóa và xã hội, dân số, điều kiện tự nhiên và khoa học công nghệ.
Các yếu tố thuộc về kinh tế Môi trường kinh tế ổn định sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của ngành ngân hàng và ngược lại, môi trường kinh tế bất ổn sẽ tác động xấu đến sản xuất kinh doanh của xã hội, từ đó sẽ làm giảm tốc độ phát triển của ngành ngân hàng. Đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngành, bao gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập bình quân, thuế và thị trường chứng khoán. Các yếu tố thuộc về chính trị và pháp luật Hoạt động ngân hàng chịu sự chi phối và ảnh hưởng của chính trị và rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau: Luật các tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng nhà nước, Luật dân sự, Luật xây dựng, Luật cạnh tranh, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình… Bên cạnh đó, NHTM còn chịu sự quản lý chặt chẽ từ NHNN và được xem là trung gian tài chính để NHNN thực hiện chính sách tiền tệ của mình. Do đó sức mạnh cạnh tranh của NHTM phụ thuộc rất nhiều vào chính sách tiền tệ, chính sách tài chính của chính phủ, của NHNN, cũng như những quy định và chuẩn mực chung của tổ chức thương mại thế giới.
Các chính sách đầu tư, hỗ trợ của chính phủ cũng như một thể chế chính trị, pháp luật rõ ràng và ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và cá nhân yên tâm sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài, tạo tiền đề vững chắc để ngành ngân hàng ngày càng phát triển. 7 Do vậy, bất kỳ sự thay đổi nào trong hệ thống chính trị, pháp luật, chuẩn mực quốc tế cũng như chính sách tiền tệ của NHNN đều ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM. Các yếu tố thuộc về văn hoá - xã hội Môi trường này tác động đến thái độ, sở thích tiêu dùng của khách hàng và tạo nên quy mô thị trường của NHTM, bao gồm: quan niệm về đạo đức, lối sống, nghề nghiệp; Phong tục tập quán truyền thống; trình độ nhận thức, trình độ học vấn và những quan tâm của xã hội. Các yếu tố thuộc về dân số Yếu tố này tác động đến xu hướng và quy mô thị phần của NHTM, bao gồm: Tổng số dân, tốc độ tăng trưởng dân số, nhóm tuổi – giới tính – dân tộc ; tuổi thọ và xu hướng chuyển dịch dân số.
Điều kiện tự nhiên Nhóm yếu tố này tuy không ảnh hưởng lớn nhưng có sự tác động đến sự ổn định và bền vững của NHTM, bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên. Các yếu tố thuộc về công nghệ Tốc độ phát triển công nghệ và xu hướng chuyển giao công nghệ được xác định là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng. Việc tin học hóa hệ thống thông tin quản trị, mở rộng dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhất là dịch vụ thanh toán, bảo mật dữ liệu và tăng hiệu quả quy trình quản trị ngân hàng là xu hướng phát triển của ngành ngân hàng trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh. Các yếu tố thuộc môi trường vi mô Theo mô hình phân tích cạnh tranh của Michael Porter(1985) thì các nhân tố thuộc môi trường vi mô có ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM như sau : 8 Hình 1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter (Nguồn: Micheal Porter, 1985) 1.1 Đối thủ cạnh tranh tiềm năng Sự gia nhập của một số NHTM mới thành lập và của một số các doanh nghiệp ngoài ngành muốn xâm nhập vào một lĩnh vực kinh doanh hoàn toàn mới thông qua việc thôn tính các NHTM cũ hoặc thành lập ra một doanh nghiệp để hoạt động ngân hàng nhằm đa dạng hóa về vị trí địa lý và loại hình sản phẩm.
Sự xuất hiện của các NHTM mới khi các điều kiện gia nhập ngành ngày càng được nới lỏng bởi tác động của quá trình hội nhập quốc tế đã làm cho mức độ cạnh tranh của các NHTM ngày càng trở nên mạnh mẽ.3 Nhà cung ứng: Khái niệm nhà cung ứng trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, khách hàng hoặc là những nhà cung ứng cơ sở vật chất, vật tư, máy móc thiết bị, điện, nước, dịch vụ bưu chính, viễn thông. phục vụ cho hoạt động kinh doanh của NHTM. + Cổ đông: chủ yếu đến từ những đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng.
Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên 9 rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra. + Khách hàng : chủ yếu là khách hàng tiền gửi cá nhân và khách hàng doanh nghiệp với lượng tiền nhàn rỗi tạm thời hoặc lượng tiền tiết kiệm định kỳ. + Nhà cung cấp thiết bị: Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị.
Sản phẩm thay thế: Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp ra thị trường những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo điều kiện cho người mua có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.