CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh Trong thế kỷ XX, nhiều lý thuyết về cạnh tranh hiện đại ra đời như lý thuyết của J. Trong đó, phải kể đến lý thuyết “lợi thế cạnh tranh của Micheal E.Porter, ông giải thích hiện tượng khi doanh nghiệp tham gia cạnh tranh thương mại quốc tế cần phải có “lợi thế cạnh tranh” và “lợi thế so sánh”.
Ông phân tích lợi thế cạnh tranh là sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh là điều kiện tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, môi trường tạo cho doanh nghiệp, quốc gia thuận lợi trong sản xuất cũng như trong thương mại. Ông cho rằng lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau; lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh, lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh.2 Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, an toàn, danh tiếng,….Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo. Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thế tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình.
Qua những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh cho thấy, cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thế tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng và tận dụng những lợi thế mà mình có được; thông qua cạnh tranh, các chủ thể xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những 2 Micheal E.Porter, (1996) “Chiến lược cạnh tranh”, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật Hà Nội. TS Dương Ngọc Dũng (2005) “Chiến lược cạnh tranh theo tác giả Micheal E.Porter”; NXB tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh) 6 cơ hội, thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh. Vậy cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là sự tranh đua giữ những ngân hàng thương mại với nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong thị trường trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị phần, xây dựng uy tín, thương hiệu,… nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượt lên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động 1.
Đặc trưng về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Xuất phát từ những đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng và những tác động của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế, cạnh tranh của NHTM có những đặc trưng riêng. Một là, các NHTM vừa cạnh tranh gay gắt vừa hợp tác với nhau. Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, trong hoạt động của mình, các ngân hàng luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau để mở rộng thị trường và thu hút khách hàng nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Tính chất gay gắt trong cạnh tranh ngân hàng xuất phát từ đặc thù của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là có tính tương đồng cao, rất dễ bắt chước và cạnh tranh giá cả trong hoạt động ngân hàng cũng khá hạn chế.
Mặt khác, trong cạnh tranh, các ngân hàng không chỉ sử dụng các công cụ mang tính truyền thống như phí, lãi suất, các dịch vụ ngân hàng,… mà còn sử dụng công nghệ hiện đại để đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, tinh thần, thái độ phục vụ khách hàng… Bên cạnh đó, do điều kiện về vốn, mạng lưới, công nghệ có hạn trong khi nhu cầu, đòi hỏi về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ngày càng cao nên các ngân hàng cũng phải liên kết với nhau để cùng cung cấp một hay một số sản phẩm dịch vụ nhất định cho khách hàng. Đặc biệt trong tác nghiệp, các NHTM vẫn phải hợp tác với nhau để thực thi các chức năng có tính hệ thống như thanh toán bù trừ, cung cấp thông tin khách hàng cho nhau để giảm thiểu rui ro khách hàng gian lận, ngăn chặn tác động dây chuyền làm sụp đổ hệ thống…. Các NHTM cạnh tranh với nhau trong mối quan hệ biện chứng của các bộ phận hợp thành hệ thống. 7 Vì vậy, để tránh đổ vỡ toàn bộ hệ thống cũng như tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn trong kinh doanh, các NHTM một mặt cạnh tranh với nhau, một mặt lại hợp tác chặt chẽ với nhau trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng Hai là, chủ thể cạnh tranh đa dạng Trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập ngày nay có nhiều chủ thể phi ngân hàng tham gia cạnh tranh trong kinh doanh hoạt động ngân hàng.
Các chủ thể phi ngân hàng bao gồm: các công ty tài chính, các quỹ tín dụng, các hình thái tiết kiệm như tiết kiệm bưu điện, điện lực, dầu khí, hóa chất,… các doanh nghiệp bảo hiểm, các doanh nghiệp thương mại (cung cấp tín dụng thương mại,…). Các định chế tài chính phi ngân hàng, mặc dù không phải là ngân hàng, không được phép kinh doanh toàn bộ hoạt động của một ngân hàng, nhưng được phép kinh doanh một hoặc một số hoạt động mang tính ngân hàng. Các định chế này được thành lập trên cơ sở khai thác lợi thế tiềm năng của họ thông qua quá trình hoạt động. Những hoạt động ngân hàng có tính phụ thêm trên cơ sở bắt nguồn từ hoạt động chính, hoặc được thành lập từ ban đầu do không đủ điều kiện để thành lập ngân hàng mà chỉ được phép hoạt động một vài sản phẩm ngân hàng.
Chủ thể này có thể sẽ là các ngân hàng tiềm năng trong tương lai khi có đủ điều kiện. Các chủ thể cạnh tranh với các NHTM trong điều kiện hội nhập không chỉ là các NHTM, các định chế tài chính phi ngân hàng trong nước mà còn cả các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính phi ngân hàng đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới. Đối với các nước đang phát triển, những đối thủ đến từ các quốc gia trên thế giới là những ngân hàng, tập đoàn tài chính có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động ngân hàng trong một nền kinh tế thị trường. Mặt khác, quá trình hội nhập cũng hình thành nên các tổ chức tài chính khu vực quốc tế, các tổ chức này cũng có thể là những đối tác tham gia cạnh tranh với các NHTM trong nước.
Ba là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh. Các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh thông qua các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Với đặc trưng là kinh doanh tiền tệ, nếu các ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh hoặc cạnh tranh thông qua việc tăng lãi suất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ, nới lỏng các điều 8 kiện tín dụng… sẽ làm cho nguồn thu của các ngân hàng giảm sút, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín dụng tăng cao dẫn đến rủi ro hệ thống. Vì vậy, mặc dù cạnh tranh với nhau nhưng trong hoạt động các NHTM vẫn phải liên kết với nhau để giữ mặt bằng giá phù hợp, đảm bảo lợi ích chung và tránh rủi ro hệ thống vì nếu một ngân hàng có nguy cơ thua lỗ, phá sản, khách hàng sẽ đồng loạt đến rút tiền, gây tâm lý hoang mang cho khách hàng gửi tiền tại các ngân hàng thương mại khác.
Điều này dẫn đến khả năng đổ vỡ theo hiệu ứng Domino mang tính hệ thống và sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Bốn là, cạnh tranh giữa các NHTM luôn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài và chịu sự chi phối mạnh mê của chính sách tiền tệ của Nhà nước. Các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu của những đối tượng khách hàng cụ thể. Trong khi đó, các khách hàng của ngân hàng lại rất đa dạng như khách hàng là các tổ chức, các cá nhân thuộc mọi thành phần của nền kinh tế.
Với môi trường kinh doanh, trong từng điều kiện kinh tế và khu vực địa lý nhất định, ngân hàng cần có những chính sách phù hợp để đưa ra các sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thu hút khách hàng và giành ưu thế trong cạnh tranh. Hoạt động và sự phát triển của hệ thống ngân hàng ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ tới sự ổn định và phát triển kinh tế của một quốc gia. Do vậy, các NHTM cạnh tranh trong điều kiện chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chính sách tài chính tiền tệ, tài khóa của Nhà nước, đặc biệt là các chính sách về lạm phát, lãi suất và tăng trưởng kinh tế. Các công cụ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 1.
Cạnh tranh bằng giá Khi sử dụng sản phẩm, người tiêu dùng luôn quan tâm đến giá của sản phẩm. Giá dịch vụ ảnh hưởng lớn đến quyết định mua của khách hàng. Đối với dịch vụ ngân hàng, giá cả chính là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng. Lãi suất huy động cao, lãi suất cho vay thấp, phí dịch vụ thấp là phương thức cạnh tranh đầy uy lực.
Trong quá trình thực hiện mục tiêu cạnh tranh về giá, ngân hàng thương mại lại gặp một vấn đề cần phải cân nhắc đó là làm sao để duy trì được mức lợi nhuận cao bởi lẽ đạt được sức cạnh tranh cao thì thu nhập của ngân hàng sẽ giảm xuống. Vì vậy, để thực hiện được cả mục tiêu 9 về giá và duy trì lợi nhuận, các NHTM phải cố gắng tiết kiệm nguồn lực, tạo dựng lòng tin và thực hiện các hoạt động marketing nhằm thu hút khách hàng để khai thác lợi ích kinh tế nhờ qui mô. Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, thị trường trong nước thống nhất và mở cửa với thị trường nước ngoài thì cạnh tranh qua giá và phí có giới hạn nhỏ do cạnh tranh tự do khiến lãi suất huy động thị trường đạt mức tối đa, lãi xuất cho vay thị trường tối thiểu.