Đa Dạng Hóa Phương Thức Trả Lương Tại Công Ty Cổ Phần COMA 18

Luận văn thạc sĩ ussh phân tích đa dạng hóa phương thức trả lương tại công ty cổ phần coma 18, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Khoa Học Quản Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

105
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Mẫu khảo sát

1.6. Câu hỏi nghiên cứu

1.7. Giả thuyết nghiên cứu

1.8. Phương pháp nghiên cứu

1.9. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ PHƯƠNG THỨC TRẢ LƯƠNG

2.1. Khái niệm tiền lương

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đa Dạng Hóa Phương Thức Trả Lương Tại Công Ty Cổ Phần COMA 18

Đa dạng hóa phương thức trả lương là một trong những chiến lược quan trọng giúp Công ty Cổ phần COMA 18 nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực. Việc áp dụng các hình thức trả lương linh hoạt không chỉ giúp thu hút nhân tài mà còn tạo động lực làm việc cho cán bộ công nhân viên. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc cải tiến phương thức trả lương trở thành một yếu tố then chốt trong việc duy trì sự phát triển bền vững của công ty.

1.1. Khái niệm Đa Dạng Hóa Phương Thức Trả Lương

Đa dạng hóa phương thức trả lương là việc áp dụng nhiều hình thức khác nhau để trả lương cho người lao động, nhằm đáp ứng nhu cầu và đặc điểm công việc. Điều này không chỉ giúp tăng cường sự hài lòng của nhân viên mà còn tối ưu hóa chi phí cho doanh nghiệp.

1.2. Lợi ích của Đa Dạng Hóa Phương Thức Trả Lương

Việc đa dạng hóa phương thức trả lương mang lại nhiều lợi ích cho Công ty Cổ phần COMA 18, bao gồm tăng cường động lực làm việc, cải thiện hiệu suất lao động và giảm tỷ lệ nghỉ việc. Nhân viên sẽ cảm thấy được công nhận và đánh giá cao hơn khi có nhiều lựa chọn về hình thức nhận lương.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Đa Dạng Hóa Phương Thức Trả Lương

Mặc dù đa dạng hóa phương thức trả lương mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Công ty Cổ phần COMA 18 cần phải đối mặt với những vấn đề như sự không đồng nhất trong cách đánh giá hiệu suất lao động và sự phức tạp trong việc quản lý các hình thức trả lương khác nhau.

2.1. Những Thách Thức Trong Việc Đánh Giá Hiệu Suất

Đánh giá hiệu suất lao động là một yếu tố quan trọng trong việc xác định mức lương. Tuy nhiên, việc áp dụng các tiêu chí đánh giá khác nhau có thể dẫn đến sự không công bằng và gây ra sự bất mãn trong nhân viên.

2.2. Khó Khăn Trong Quản Lý Các Hình Thức Trả Lương

Quản lý nhiều hình thức trả lương khác nhau đòi hỏi một hệ thống quản lý phức tạp. Công ty cần đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân viên để đảm bảo việc thực hiện chính sách trả lương hiệu quả.

III. Phương Pháp Đề Xuất Đa Dạng Hóa Phương Thức Trả Lương

Để thực hiện đa dạng hóa phương thức trả lương, Công ty Cổ phần COMA 18 có thể áp dụng một số phương pháp như khoán quỹ lương, trả lương theo sản phẩm lũy tiến và các hình thức thưởng khác. Những phương pháp này không chỉ giúp tăng cường động lực làm việc mà còn tạo ra sự công bằng trong việc trả lương.

3.1. Khoán Quỹ Lương Đối Với Các Ban Quản Lý

Khoán quỹ lương cho các ban quản lý giúp tạo ra sự linh hoạt trong việc phân bổ ngân sách lương. Điều này cho phép các bộ phận tự quyết định cách sử dụng quỹ lương để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.2. Trả Lương Theo Sản Phẩm Lũy Tiến

Hình thức trả lương theo sản phẩm lũy tiến khuyến khích nhân viên làm việc hiệu quả hơn. Nhân viên sẽ nhận được mức lương cao hơn khi họ hoàn thành nhiều sản phẩm hơn, từ đó thúc đẩy năng suất lao động.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Tại COMA 18

Việc áp dụng đa dạng hóa phương thức trả lương tại Công ty Cổ phần COMA 18 đã cho thấy những kết quả tích cực. Nhiều nhân viên đã bày tỏ sự hài lòng với các hình thức trả lương mới, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc và sự gắn bó với công ty.

4.1. Kết Quả Đánh Giá Hiệu Suất Làm Việc

Kết quả đánh giá hiệu suất làm việc cho thấy sự cải thiện rõ rệt sau khi áp dụng các phương thức trả lương mới. Nhân viên cảm thấy được khuyến khích hơn trong công việc của mình.

4.2. Tác Động Đến Tinh Thần Làm Việc Của Nhân Viên

Sự đa dạng trong phương thức trả lương đã tạo ra một môi trường làm việc tích cực hơn. Nhân viên cảm thấy được công nhận và đánh giá cao, từ đó nâng cao tinh thần làm việc.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Đa Dạng Hóa Phương Thức Trả Lương

Đa dạng hóa phương thức trả lương tại Công ty Cổ phần COMA 18 không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Công ty cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các phương thức trả lương để đáp ứng nhu cầu của nhân viên và thị trường.

5.1. Tương Lai Của Đa Dạng Hóa Phương Thức Trả Lương

Trong tương lai, Công ty Cổ phần COMA 18 cần tiếp tục mở rộng và cải tiến các hình thức trả lương để phù hợp với sự phát triển của thị trường và nhu cầu của nhân viên.

5.2. Đề Xuất Các Hình Thức Trả Lương Mới

Công ty nên xem xét áp dụng các hình thức trả lương mới như thưởng theo hiệu suất, thưởng theo dự án để tạo động lực cho nhân viên và nâng cao hiệu quả công việc.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đa dạng hóa phương thức trả lương tại công ty cổ phần coma 18

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tiền lƣơng và phƣơng thức trả lƣơng Chƣơng 2. Phƣơng thức trả lƣơng tại Công ty cổ phần COMA 18 Chƣơng 3. Đề xuất một số hình thức trả lƣơng mới đối với Công ty cổ phần COMA 18 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ PHƢƠNG THỨC TRẢ LƢƠNG 1. Khái niệm tiền lương Tiền lƣơng là giá trị mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động (hoặc ngƣời lao động nhận đƣợc từ ngƣời sử dụng lao động), có thể biểu hiện bằng tiền, hàng hóa… Trong nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trƣờng, dựa trên giá trị sức lao động trên thị trƣờng, hai bên thƣơng lƣợng, đàm phán để thống nhất về phƣơng thức trả lƣơng và mức lƣơng. Tiền lƣơng luôn là những điều kiện tiên quyết, là mối quan tâm hàng đầu đối với các bên trong hợp đồng lao động. Tiền lƣơng vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội, vừa là một quan hệ, vừa là một công cụ hạch toán và đòn bẩy kích thích năng suất lao động xã hội.

Dƣới góc độ lý thuyết, tiền lƣơng có thể đƣợc tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau. Dƣới góc độ Luật học, tiền lƣơng là khoản tiền trả cho khế ƣớc thuê và sử dụng sức lao động giữa ngƣời thuê và ngƣời cho thuê. Góc nhìn này nhấn mạnh sự ràng buộc giữa quyền lợi và nghĩa vụ: Ngƣời trả lƣơng và ngƣời nhận lƣơng bình đẳng với nhau về quyền lợi và trách nhiệm. Tiền lƣơng không phải là sự cho không, cũng không phải là một khoản bố thí dƣới bất kỳ hình thức nào.

Tiền lƣơng gắn với khế ƣớc dƣới dạng hợp đồng lao động đã đƣợc ký kết. Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại thì mức lƣơng mà một cá nhân nhận đƣợc do cung cấp một số giờ lao động tối thiểu quy định trong hợp đồng lƣơng Theo cách hiểu này, ngƣời lao động có quyền nhận một mức tiền lƣơng nhất định khi họ đồng ý cung ứng một đơn vị thời gian lao động nào đó, hoặc thực hiện một công việc nào đó theo yêu cầu của ngƣời thuê sức lao động. Ngƣời thuê phải có trách nhiệm thanh toán tiền lƣơng một khi họ nhận đƣợc sự cung ứng lao động từ ngƣời làm thuê theo thoả thuận. Động cơ, mục đích của bên 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mua, bên bán ẩn dấu đằng sau những điều khoản đã đƣợc thỏa thuận, thống nhất trong hợp đồng lao động.

Theo các nhà kinh doanh, những ngƣời làm kế toán, tiền lƣơng là một yếu tố của tổng chi phí của doanh nghiệp. Kế toán không có nhiệm vụ phải phân biệt bản chất kinh tế - xã hội của các yếu tố đầu vào, mà gộp chung gọi là chi phí (Cost). Tiền lƣơng là một phần trong các chi phí đó. Với quan niệm nhƣ vậy, tiền lƣơng đã khoả lấp sự bình đẳng giữa các bên trong quan hệ lao động để nhấn mạnh đến sự hiện hữu của những chi phí mà ngƣời thuê sức lao động phải bỏ ra.

Dƣờng nhƣ ở đây, trách nhiệm của ngƣời thuê sức lao động là chủ yếu vì không khẳng định những lợi ích mà họ có thể nhận đƣợc. Họ là ngƣời tạo công ăn, việc làm và trả lƣơng. Ngƣời bán sức lao động bị ràng buộc vào sự đánh giá chủ quan của ngƣời thuê sức lao động thông qua kết quả có thể đạt đƣợc của quá trình lao động. Tất nhiên, khái niệm chi phí là đúng về phía chủ doanh nghiệp - ngƣời thuê sức lao động.

Tiền lƣơng là tiền trả cho yếu tố sức lao động mà họ thuê, là ngang giá của sức lao động trên thị trƣờng lao động. Đối với họ, mua sức lao động cũng nhƣ mua mọi đầu vào khác, đều xuất phát từ các ý đồ sản xuất kinh doanh. Vì vậy, họ không phân biệt tính chất khác nhau trong việc sử dụng các yếu tố này cho sản xuất, mà gọi chúng đều là các chi phí. Những ngƣời bán sức lao động cũng có quyền xem tiền lƣơng nhƣ tiền trả cho các hao phí về thể lực và trí lực sau mỗi quá trình lao động.

Tiền trả sẽ càng cao nếu khối lƣợng hao phí càng lớn hoặc là những điều kiện, trong đó ngƣời lao động làm việc là khó khăn. Kinh tế học cũng quan niệm tiền lƣơng là chi phí cho lao động với tính cách là một nguồn đầu vào. Họ cũng nhất trí rằng, chủ doanh nghiệp có lợi ích là đƣợc toàn quyền sử dụng sức lao động trong một số đơn vị thời gian nào đó, là điều kiện giúp thực hiện ý đồ kinh doanh. Vì thế, chủ doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh toán tiền công - tiền lƣơng.

Sự trả lƣơng của chủ doanh nghiệp cho ngƣời lao động dựa trên hợp đồng lao động và ít phụ thuộc vào những tác động trực tiếp từ các rủi ro kinh tế đối với doanh nghiệp. Về nguyên tắc, những 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thoả thuận trong việc thuê và cho thuê sức lao động điễn ra ngoài và trƣớc mỗi quá trình lao động. Những điều khoản của thoả thuận cũng hầu nhƣ không ràng buộc tiền lƣơng của ngƣời lao động với các rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt. Những chi phí thể lực và trí lực của ngƣời lao động cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều phải đƣợc thanh toán, bất luận hiện trạng kinh doanh của doanh nghiệp ra sao.

Trong nền kinh tế thị trƣờng, tiền lƣơng chịu sự chi phối của rất nhiều nhân tố, cả khách quan và chủ quan, trong đó có những nhân tố có tính quyết định. Chẳng hạn, chất lƣợng lao động, đƣợc biểu hiện bởi trình độ năng lực, kinh nghiệm; sức mạnh của các nghiệp đoàn mà những ngƣời lao động là thành viên; tình hình cung cầu trên thị trƣờng lao động; quy định của luật pháp trong việc thuê, sử dụng sức lao động; tƣơng quan tiền lƣơng trên thị trƣờng và giữa các doanh nghiệp; khả năng tài chính của doanh nghiệp… Khái niệm tiền lƣơng cần bao quát đƣợc quyền và trách nhiệm của các bên liên quan trong hợp đồng lao động, vừa là chi phí của doanh nghiệp, vừa là thu nhập của ngƣời lao động, vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội. Vì vậy có thể hiểu, Tiền lương trong doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người chủ doanh nghiệp thoả thuận trả cho người lao động, căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động, vào giá thuê sức lao động trên thị trường và những quy định hiện hành của luật pháp. Để hiểu đầy đủ khái niệm tiền lƣơng, ngƣời ta còn đề cập đến các khái niệm tiền lƣơng, lƣơng tối thiểu, tiền lƣơng kinh tế, tiền lƣơng thực tế, tiền lƣơng danh nghĩa - không thể hiểu đây là những tên gọi khác của tiền lƣơng, mà mỗi khái niệm đều hàm chứa những ý nghĩa kinh tế - xã hội riêng biệt.

Tiền công: chỉ là một biểu hiện của tiền lƣơng phản ánh chân thực hơn quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thƣờng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc các hợp đồng dân sự thuê mƣớn lao động. Khái niệm này đƣợc sử dụng phổ cập trong những thỏa thuận thuê công nhân trên thị trƣờng tự do và còn đƣợc gọi là giá công lao động trả cho một đơn vị thời gian 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lao động cung ứng hoặc hoàn thành một khối lƣợng công việc nhất định trong khoảng thời gian ngắn. Tiền lƣơng tối thiểu đƣợc C.Mác đề cập đến nhiều, đặc biệt trong bộ tƣ bản, dƣới thuật ngữ “mức lƣơng xã hội tối thiểu”. Theo Mác, đây là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời công nhân có thể mua đƣợc những hàng hoá, dịch vụ cho phép thoả mãn các nhu cầu xã hội tối thiểu, để đảm bảo duy trì sức lao động cho ngƣời lao động.

Nhu cầu tối thiểu lại phụ thuộc vào mức sống tối thiểu của xã hội, và tiền lƣơng nhằm đảm bảo khả năng tái sản xuất giản đơn sức lao động. Khi nền kinh tế đạt đƣợc trình độ phát triển cao hơn, mức sống tối thiểu chung của xã hội nâng lên, mức lƣơng tối thiểu cũng phải tăng lên. Tiền lƣơng tối thiểu ở nhiều quốc gia đƣợc hiểu nhƣ ngƣỡng mà mọi doanh nghiệp, mọi tổ chức có sử dụng sức lao động không đƣợc trả lƣơng thấp hơn và đƣợc luật hoá. Điều 91 Chƣơng VI Bộ Luật lao động nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã ghi: “Mức lƣơng tối thiểu là mức thấp nhất trả cho ngƣời lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thƣờng và phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của ngƣời lao động và gia đình họ.

Mức lƣơng tối thiểu đƣợc xác định” [Số 19, trang 28] và Điều 90 của Bộ luật lao động cũng ghi: “Tiền lƣơng là khoản tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lƣơng bao gồm mức lƣơng theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác. Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Chính phủ quy định. Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động căn cứ vào năng suất lao động, chất lƣợng công việc” [Số 19, trang 28].

Khi luật pháp bảo hộ mức lƣơng tối thiểu, cũng có nghĩa là, chính sách tiền lƣơng tối thiểu đã trở thành lƣới bảo đảm xã hội, chống sự bóc lột quá mức ngƣời lao động và hạn chế sự phân hoá xã hội về thu nhập, chống đói nghèo. Tiền lƣơng tối thiểu cũng là điều kiện để thống nhất các thị trƣờng lao động trong nội bộ quốc gia, cũng nhƣ hội nhập thị trƣờng quốc gia với thị trƣờng khu vực và thế giới. Tuy đã đạt đƣợc nhiều ƣu việt trong việc luật hoá và vận hành chính sách tiền lƣơng tối thiểu, đặc biệt ở những nƣớc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình độ kinh tế - xã hội còn kém phát triển và ngƣời lao động còn bị nhiều sức ép từ phía thị trƣờng, ở vào “thế yếu” trong các thƣơng lƣợng về tiền lƣơng, nhƣng một số nhà kinh tế vẫn tỏ ý hoài nghi về tính hiệu quả của chính sách tiền lƣơng tối thiểu, thậm chí phản đối.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ