Chương 1: GIỚI THIỆU. Phần này trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các biến được sử dụng, tóm tắt sơ lược kết quả nghiên cứu và nêu ra ý nghĩa. Chương 2: LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM. Trong phần này, bài nghiên cứu sẽ trình bày nền tảng lý thuyết cơ bản về vai trò của sự đa dạng giới tính trong doanh nghiệp theo dẫn chứng của một số quốc gia trên thế giới; tiếp đến là giới thiệu về một vài bài nghiên cứu đã có những đóng góp đáng kể cho đề tài nghiên cứu về sự đa dạng giới tính trong doanh nghiệp; sau cùng là phân tích hướng nghiên cứu tại Việt Nam và dự đoán kết quả cho phân tích định lượng từ các doanh nghiệp Việt Nam.
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Trong phần này, tất cả các biến sẽ được mô tả và giải thích cụ thể; sau đó bài nghiên cứu sẽ trình bày 2 phương trình chính trong mô hình định lượng và giới thiệu phương pháp 2SLS giải quyết vấn đề nội sinh. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Phần này sẽ trình bày lần lượt các kết quả kiểm định và hồi quy, từ đó thảo luận về mối quan hệ giữa đa dạng giới tính trong 123doc 5 HĐQT và giá trị của doanh nghiệp.
Đây là phần quan trọng nhất vì cung cấp các bằng chứng thực nghiệm cho mục tiêu nghiên cứu. Chương 5: KẾT LUẬN. Ở phần cuối này bài nghiên cứu sẽ tóm tắt lại toàn bộ kết quả nghiên cứu trên lý thuyết lẫn thực nghiệm, giải thích ngắn gọn nguyên nhân, đồng thời nêu lên một số hạn chế trong bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai cho đề tài này. 123doc 6 CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2.1 Khái quát sự đa dạng giới tính trong HĐQT và giá trị của doanh nghiệp 2.1 Quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Quan niệm và nội dung của quản trị doanh nghiệp ở các quốc gia là khác nhau. Điều này do sự khác nhau về nguồn gốc thể chế luật pháp, đặc tính quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển. Vì vậy, có nhiều định nghĩa về quản trị doanh nghiệp. Theo Cadbury (1992) thì quản trị doanh nghiệp là hệ thống doanh nghiệp quản lý và kiểm soát.
Ngoài ra, quản trị doanh nghiệp là một tập hợp các cơ chế kiểm soát bên trong và bên ngoài được thiết kế để các cổ đông thực hiện việc giám sát một công ty nhằm tối đa hóa giá trị công ty và đảm bảo rằng công ty tạo ra lợi nhuận dựa trên cổ phần đóng góp của các cổ đông (Berle & Means, 1932; Tirole, 2001; Williamson, 1984). Bên cạnh đó quản trị doanh nghiệp là một hệ thống các nguyên tắc và thông lệ dựa vào đó để tổ chức và quản lý doanh nghiệp với mục đích là duy trì nhu cầu dài hạn của các cổ đông theo cách thức tốt nhất. Các bài viết về quản trị doanh nghiệp chứng minh rằng quản trị doanh nghiệp hiệu quả là khi có sự đóng góp vào việc tạo ra các giá trị trong dài hạn cho chủ sở hữu và các cổ đông đa số khác. Vì thế, quản trị doanh nghiệp hiệu quả là cần thiết khi được xem như kết quả của tối ưu hóa mối liên kết giữa chủ sở hữu, nhà quản lý và HĐQT.
Quản trị doanh nghiệp có thể xem là một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Một trong những tài liệu cơ bản và đầy đủ nhất giải thích về quản trị doanh nghiệp là “Các nguyên tắc quản trị công ty” (OECD Principles of Corporate Governance) được xuất bản bởi OECD năm 1999 và chỉnh sửa năm 2004. Tài liệu này đã trình bày chi tiết các tiêu chuẩn quốc tế để đánh giá hiệu quả của quản trị doanh nghiệp. Khái niệm về quản trị doanh nghiệp theo OECD có thể tóm tắt như sau: “Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các 123doc 7 bên có quyền lợi liên quan.
Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được ban giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn”. Trên thực tế có rất nhiều cách tiếp cận để giải thích cho quản trị doanh nghiệp dựa trên mỗi trường hợp đặc thù. Từ những cách lý giải có phần giống nhau, chúng ta có thể suy ra các nhân tố về tiêu chuẩn và khái niệm của quản trị doanh nghiệp: Quản trị doanh nghiệp là một cấu trúc (hay phương pháp) mà thông qua đó xác định được mục tiêu của doanh nghiệp và đạt được sự quản lý có chu kỳ.
Quản trị doanh nghiệp quản lý những quy tắc hoạt động giữa doanh nghiệp và các bên liên quan, tối đa hóa mục tiêu trong việc giảm xung đột về lợi ích giữa người chủ và người đại diện. Cuối cùng, lý thuyết quản trị doanh nghiệp được áp dụng tại mỗi quốc gia là kết quả của những hệ thống luật pháp, tiêu chuẩn, đạo đức, truyền thống và thủ tục phức tạp hoàn toàn khác nhau Nhiều nghiên cứu trước đây đã tìm hiểu về ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, những ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp có thể được đo lường và xem xét qua 9 yếu tố: i. Quy mô HĐQT doanh nghiệp Ảnh hưởng của quy mô HĐQT đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đúc kết thành 2 trường phái.
Trường phái đầu tiên cho rằng quy mô HĐQT nhỏ sẽ dẫn dắt doanh nghiệp đi đến thành công hơn (Lipton và Lorch, 1992; Jensen, 1993; Yermack, 1996). Trường phái thứ hai lại chứng minh khi quy mô HĐQT càng lớn thì càng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Pfeffer, 1972; Klein, 1998; 123doc 8 Coles, 2008). Những nghiên cứu này chỉ ra rằng một HĐQT lớn sẽ cung cấp sự quản lý hiệu quả hơn do sự phức tạp của môi trường kinh doanh và văn hóa tổ chức (Klein, 1998). Thành viên nữ trong HĐQT Vấn đề thành viên nữ trong HĐQT được đề cập khá thường xuyên trong các nghiên cứu thực nghiệm.
Thành viên nữ trong HĐQT tạo ra sự đa dạng cho HĐQT (Dutta và Bose, 2006). Bên cạnh đó, Smith và các cộng sự (2006) đã cho rằng tầm quan trọng của phụ nữ trong HĐQT thể hiện 3 lý do khác nhau: (1) quản trị nữ có thể hiểu được thị trường tốt hơn khi so sánh với quản trị nam; (2) các thành viên nữ tạo dựng được hình ảnh tốt hơn trong nhận thức của cộng đồng về 1 doanh nghiệp và điều này có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động; (3) các thành viên khác trong HĐQT sẽ tăng cường sự hiểu biết về môi trường kinh doanh khi các thành viên nữ được bổ nhiệm. Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm CEO Mặc dù các nghiên cứu thực nghiệm chưa thể cung cấp cái nhìn nhất quán về ảnh hưởng của vấn đề kiêm nhiệm giữa chủ tịch Hội đồng quản trị và CEO đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhưng dường như có một sự đồng tình hoàn toàn giữa các cổ đông, tổ chức đầu tư và những nhà hoạch định chính sách rằng chủ tịch Hội đồng quản trị và CEO không nên là một. Trong nghiên cứu vào năm 2009, Heidrick và Struggles thấy rằng tại các quốc gia tiên tiến, 84% các doanh nghiệp có sự phân chia rõ ràng vai trò của chủ tịch Hội đồng quản trị và CEO.
Theo nghiên cứu của Hewa-Wellalage và Locke ở Sri Lanka (2011), quy tắc vận hành tốt nhất trên hệ thống quản trị doanh nghiệp ở Sri Lanka nhấn mạnh sự cân bằng về quyền lực trong doanh nghiệp, tối thiểu hóa tầm ảnh hưởng của một cá nhân đến các quá trình ra quyết định. Điều này cũng đồng nghĩa nếu xảy ra vấn đề kiêm nhiệm vị trí chủ tịch Hội đồng quản trị và CEO thì các giám đốc độc lập trong doanh nghiệp phải chiếm đa số để tạo lại thế cân bằng và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐQT. 123doc 9 Tại Việt Nam, Bộ Tài chính (2012) quy định: “Chủ tịch Hội đồng quản trị chỉ nên giữ chức vụ giám đốc điều hành trong doanh nghiệp nếu điều này nhận được sự chấp thuận tại Đại hội cổ đông thường niên”. Bên cạnh đó, Fana và Jensen (1983) cũng kết luận rằng việc kiêm nhiệm này sẽ hạn chế sự chuyên nghiệp của HĐQT khi vận hành doanh nghiệp, làm tăng chi phí đại diện.
Trình độ học vấn của thành viên HĐQT Vai trò của HĐQT là một hệ thống điều hành nội bộ doanh nghiệp và vận hành hoạt động kinh doanh (theo Fama và Jensen, 1983). Một HĐQT có quyết định quản lý tốt cùng với cách giải quyết vấn đề hiệu quả sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Vì vậy yêu cầu đặt ra đòi hỏi các thành viên quản trị phải được trang bị các kiến thức của nhà quản lý như tài chính, kế toán, marketing, hệ thống thông tin, vấn đề về luật pháp và các lĩnh vực liên quan khác để phục vụ cho tiến trình ra quyết định. Chất lượng quản lý của mỗi thành viên sẽ đóng góp quan trọng và trực tiếp vào các quyết định quản trị, cũng đồng nghĩa tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Kinh nghiệm làm việc của thành viên HĐQT Có một tranh luận cho rằng thành viên trong HĐQT có tuổi nghề càng cao thì kinh nghiệm càng phong phú hơn những thành viên nhỏ tuổi hơn. Kinh nghiệm này được cho rằng trực tiếp đóng góp vào hiệu quả hoạt động tốt hơn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thành viên lớn tuổi hơn lại xuất hiện xu hướng bảo thủ và độc tài hơn khi ra quyết định. Tính cách này có thể xem là rủi ro trong việc ra quyết định, làm suy yếu hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (theo Carlson và Karlsson, 1970).
Thêm vào đó, một HĐQT có tuổi đời trung bình cao thường chịu áp lực hạn chế hơn và điều này sẽ cản trở trong việc thực thi các quyết định mang tính chiến lược (theo Child, 1975).