Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Cuộc vận động phụ nữ miền Bắc của Đảng Lao động Việt Nam (1965-1975)" do nghiên cứu sinh Hoàng Thị Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Phạm Hồng Tung, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 (hoàn thành năm 2017), thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 03 15).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam luôn giữ vai trò trọng yếu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975), bối cảnh lịch sử đặt ra yêu cầu vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ở hậu phương miền Bắc, đồng thời chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. Phong trào "Ba đảm đang" đã trở thành phong trào tiêu biểu, tập hợp hàng triệu phụ nữ tham gia gánh vác công việc thay thế nam giới đi chiến đấu.

Về mặt lý luận, từ thế kỷ XVIII-XIX trên thế giới đã xuất hiện các trào lưu và lý thuyết nữ quyền như thuyết "Nữ quyền tự do" (Mary Wollstonecraft), "Nữ quyền xã hội chủ nghĩa" (Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen) và "Nữ quyền Mác-xít" (Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Ilyich Lenin, Alexandra Kollontai, Clara Zetkin). Tại Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, tư tưởng giải phóng phụ nữ và bình đẳng nam nữ đã được các nhà yêu nước, các trí thức và báo chí bàn luận sôi nổi, sau đó được Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp thu, vận dụng gắn liền công cuộc giải phóng phụ nữ với giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

Tuy nhiên, các công trình trước đây phần lớn nghiên cứu lịch sử chiến tranh thuần túy hoặc nhìn nhận phong trào phụ nữ dưới góc độ lịch sử phong trào riêng lẻ ở từng địa phương, đơn vị. Luận án xác định khoảng trống khoa học cần giải quyết là phục dựng có hệ thống, toàn diện cuộc vận động phụ nữ miền Bắc của Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng kết hợp với cách tiếp cận nghiên cứu giới, từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công tác vận động phụ nữ hiện nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ các chủ trương của Đảng trong cuộc vận động phụ nữ miền Bắc từ năm 1965 đến 1975; chỉ rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân; trên cơ sở khảo sát diễn biến các phong trào phụ nữ, rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn vận dụng vào công tác vận động phụ nữ giai đoạn hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 5 nhiệm vụ chính theo văn bản):
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
    2. Nghiên cứu và làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến cuộc vận động phụ nữ miền Bắc của Đảng (1965-1975).
    3. Hệ thống hóa những chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc vận động phụ nữ ở miền Bắc những năm 1965-1975.
    4. Luận giải nội dung của cuộc vận động gắn với những phong trào và kết quả đạt được ở từng giai đoạn khác nhau tương ứng với điều kiện lịch sử cụ thể.
    5. Nhận xét những thành tựu, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm vận dụng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với cuộc vận động phụ nữ miền Bắc cũng như kết quả của sự chỉ đạo đó trong giai đoạn 1965-1975.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn 1965-1975 (từ khi đế quốc Mỹ triển khai chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 4/1975). Luận án có khảo lược giai đoạn trước năm 1965 để làm rõ tính kế thừa và xuyên suốt trong đường lối của Đảng.
  • Phạm vi không gian: Tập trung trên địa bàn miền Bắc nước Việt Nam, đồng thời đặt trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với chiến trường miền Nam.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với phụ nữ trên các lĩnh vực: lao động sản xuất, xây dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến, phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu; công tác cán bộ nữ; bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; thực hiện bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 4 nhóm chính:

Các nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1. Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Các công trình tiêu biểu gồm:

  • Hoàng Tùng (1974), Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, Hà Nội.
  • Ban Tổng kết trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  • Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) gồm 9 tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  • Hồ Khang (2017), Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

Các công trình này đã thể hiện bối cảnh lịch sử chung và đường lối kháng chiến của dân tộc, phản ánh lực lượng phụ nữ như một bộ phận hợp thành của lực lượng cách mạng, nhưng chưa đi sâu phân tích chuyên biệt vai trò của Đảng trong cuộc vận động phụ nữ.

2. Nhóm công trình về vị trí, vai trò của phụ nữ, vấn đề nữ quyền và nghiên cứu giới

  • Trần Quốc Vượng (1972), Truyền thống phụ nữ Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
  • Lê Thi (1990), Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường đưa phụ nữ Việt Nam đi tới bình đẳng, tự do, phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; và Lê Thi (2014), Truyền thống trung hậu đảm đang, giỏi việc nước, đảm việc nhà của phụ nữ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  • Các tài liệu báo chí và chuyên khảo đầu thế kỷ XX: bài viết của Phạm Quỳnh (1916); cuốn Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam của Trần Thiện Vy và Bùi Thế Phúc (1932); các bài tranh luận giữa Nguyễn Thị Chính và Phan Khôi trên báo Phụ nữ Tân văn (1932); tác phẩm Đời chị em và Chị em phải làm gì của Cựu Kim Sơn và Văn Huệ (1938); cuốn Vấn đề phụ nữ của Nguyễn Thị Kim Anh (1938); nghiên cứu của Đặng Thị Vân Chi (1998, 2008).
  • Các công trình về lý thuyết giới và bình đẳng giới: Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội; nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (Lê Ngọc Văn, Đỗ Thị Bình, 1999); Lê Thị Ngân Giang, Hoàng Tú Anh, Vũ Song Hà (2007), Một số thuật ngữ về giới và bình đẳng giới, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

3. Nhóm công trình về lịch sử vận động phụ nữ của Đảng và các đoàn thể

  • Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Đông (1955), Tầm quan trọng của công tác vận động phụ nữ.
  • Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1968), Quan điểm cơ bản về vấn đề giải phóng phụ nữ của Đảng Lao động Việt Nam.
  • Lê Duẩn (1974), Vai trò và nhiệm vụ của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn mới của cách mạng, Nxb Sự thật, Hà Nội.
  • Nguyễn Thị Thập (chủ biên, 1981), Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam (2 tập), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
  • Nxb Phụ nữ (2016), hai bộ sách: Biên niên Lịch sử Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Lịch sử Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Tập I: 1930-1976).
  • Lê Chân Phương (2003), Phong trào phụ nữ “Ba đảm đang” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
  • Các công trình phụ nữ quân đội: Công tác phụ nữ trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2004) - Biên niên sự kiện (Nxb QĐND, 2005) và Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Lâm (2001), Phụ nữ quân đội trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
  • Lịch sử phụ nữ địa phương: Lịch sử phong trào phụ nữ các tỉnh Hà Nội (1983), Sơn La (1999), Bắc Kạn (2007), luận văn của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2005) về Thái Bình, luận văn của Phạm Thị Thu Huyền (2006) về Hà Tây.

4. Nhóm công trình nghiên cứu ở nước ngoài

  • IVè Congrès des femmes du Vietnam: Documents principaux (Union des femmes du Vietnam, 1974) và Glorieuses filles du Viet Nam (1975).
  • David Marr (1976), bài báo trên Journal of Asian Studies (số 35) và Chương 5 sách Vietnamese tradition on Trial 1920-1945.
  • Foreign Languages Publishing House (1989), Vietnamese women in the eighties, Hanoi.
  • Shawn McHale (1995), bài nghiên cứu Printing and power: Vietnamese Debates over Women's Place in Society, 1918-1934.
  • Karen Gottschang Turner và Phan Thanh Hảo (2000), Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh, bản dịch Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
  • Gisèle Bousquet và Nora Taylor (2005), Le Viêt Nam au féminin = Viet Nam: Women's realities, Paris.
  • Vu Thu (2011), Luận án Tiến sĩ Divergent voices: Reflections on Vietnamese women's wartime and postwar stories, Đại học Ottawa.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Luận án chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu trước: tư liệu lưu trữ Đảng và Quân đội chưa được khai thác đồng bộ; các công trình nước ngoài thiếu tiếp cận nguồn tư liệu sơ cấp tại Việt Nam; các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận theo hướng lịch sử phong trào thuần túy hoặc theo ranh giới địa phương hẹp. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc nghiên cứu chỉnh thể quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam đối với phụ nữ toàn miền Bắc giai đoạn 1965-1975 trên cơ sở kết hợp phương pháp lịch sử Đảng với cách tiếp cận liên ngành giới và khoa học chính trị.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và cơ sở lý luận

  • Khái niệm vận động phụ nữ: Vận động là quá trình tuyên truyền, giải thích, thuyết phục để quần chúng tự nguyện, tích cực tham gia thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội. Luận án phân biệt giữa "cuộc vận động" (mobilization) và "phong trào" (movement). Phong trào có thể mang tính tự phát hoặc là kết quả của cuộc vận động. Cuộc vận động phụ nữ của Đảng là quá trình lịch sử có chủ trương, tổ chức, lãnh đạo bởi hệ thống chính trị (Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng) nhằm phát huy cao độ vai trò của phụ nữ gắn với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ.
  • Cơ sở lý luận kinh điển: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ (tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước của Friedrich Engels; luận điểm của V.I. Lenin về việc cách mạng muốn thắng lợi phải lôi cuốn phụ nữ tham gia); Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ ("Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa").
  • Lý thuyết nữ quyền: Luận án tham chiếu các nhánh lý thuyết nữ quyền tự do, nữ quyền xã hội chủ nghĩa và nữ quyền Mác-xít để luận giải quá trình vận động giải phóng phụ nữ của Đảng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và lịch sử chuyên ngành:

  1. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic: Hai phương pháp chủ đạo nhằm tái hiện tiến trình hình thành, hoàn thiện và thực hiện các chủ trương vận động phụ nữ của Đảng theo trình tự thời gian và mối liên hệ bản chất bên trong.
  2. Phương pháp so sánh: So sánh chủ trương của Đảng qua từng thời kỳ lịch sử (1965-1968 so với 1969-1975); đối sánh giữa tư liệu văn bản thành văn với kết quả điều tra điền dã.
  3. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý khối tư liệu lưu trữ và tài liệu thứ cấp, rút ra các nhận định khoa học và bài học kinh nghiệm.
  4. Phương pháp thống kê: Tập hợp, thống kê các số liệu về thành tích sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, số lượng nữ cán bộ quản lý, nữ anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động.
  5. Phương pháp điền dã lịch sử: Tiến hành khảo sát thực địa, gặp gỡ và phỏng vấn nhân chứng lịch sử tại các địa phương: Phú Thọ, Thái Bình, Nam Định, Hà Nội nhằm bổ sung tư liệu sống động cho các văn bản thành văn.
  6. Tiếp cận liên ngành: Kết hợp phương pháp Lịch sử Đảng với phương pháp của Khoa học Chính trị và Nghiên cứu Giới.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Sử liệu sơ cấp:
    • Tập 26 đến tập 36 của bộ Văn kiện Đảng toàn tập (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999-2002).
    • Bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011).
    • Văn kiện, chỉ thị, nghị quyết tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
    • Các bài phát biểu và văn bản chỉ đạo của các lãnh đạo: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Nguyễn Thị Thập.
  • Sử liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu chuyên khảo; hồi ký cách mạng của Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định, Lê Chân Phương; nhật ký chiến trường (Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi 20 của Nguyễn Văn Thạc).

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu thành 4 chương chính:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 tập trung phân tích và làm rõ các cơ sở lý luận, hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác vận động phụ nữ của Đảng trong và ngoài nước.

  • Xác lập hệ thống khái niệm: Luận giải rành mạch nội hàm của các khái niệm "vận động", "vận động phụ nữ", "cuộc vận động phụ nữ của Đảng", và làm rõ mối tương quan biện chứng giữa "cuộc vận động" (mobilization) và "phong trào" (movement).
  • Phân tích 4 nhóm tài liệu trong nước và các ấn phẩm quốc tế: Đánh giá những đóng góp về mặt tư liệu, phương pháp luận và nhận thức lịch sử của các thế hệ học giả trước đây; chỉ rõ tính tản mạn, cục bộ của các công trình đi trước khi nghiên cứu về phong trào phụ nữ thời kỳ chống Mỹ.
  • Xác định khoảng trống nghiên cứu: Khẳng định đề tài luận án tập trung khai thác đồng bộ các kho lưu trữ Trung ương, kết hợp tư liệu hiện vật, hồi ký và điền dã nhằm tái hiện toàn diện sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với phụ nữ miền Bắc giai đoạn 1965-1975 dưới góc nhìn liên ngành.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với phụ nữ miền Bắc giai đoạn 1965-1968

Chương 2 trình bày hoàn cảnh lịch sử khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, làm thay đổi căn bản nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu của hậu phương.

Thời gian / Văn kiện Cơ quan / Người ban hành Nội dung và quyết sách trọng tâm
Tháng 3/1965 Hội LHPN Việt Nam Phát động phong trào "Ba đảm nhiệm" tại Đại hội phụ nữ Thủ đô, sau đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi tên thành "Ba đảm đang".
Ngày 8/6/1965
(Chỉ thị số 99-CT/TW)
Ban Bí thư Trung ương Đảng Chỉ thị Về phương hướng, nhiệm vụ công tác vận động phụ nữ trước tình hình mới: Nhiệm vụ hàng đầu là đẩy mạnh và bảo vệ sản xuất; phương châm "vừa tích cực động viên vừa quan tâm bồi dưỡng và bảo vệ sức lao động của phụ nữ".
Tháng 7/1965 Bí thư thứ nhất Lê Duẩn Phát biểu tại Hội nghị cán bộ phụ vận toàn quốc: Yêu cầu gắn liền phong trào "Ba đảm đang" với việc giải phóng phụ nữ khỏi gánh nặng gia đình, con cái; thực hiện nam nữ bình quyền.
Ngày 20/10/1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh Nhân kỷ niệm 20 năm thành lập Hội LHPN Việt Nam, Bác tặng phụ nữ 12 chữ vàng: "Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang, chống Mỹ, cứu nước".
Ngày 10/1/1967
(Nghị quyết số 152-NQ/TW)
Ban Chấp hành Trung ương Nghị quyết Về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận: Chỉ đạo bồi dưỡng, phân bổ, sử dụng hợp lý sức lao động nữ, bảo vệ sức khỏe phụ nữ, trẻ em và củng cố tổ chức Hội Phụ nữ.
Ngày 10/1/1967
(Nghị quyết số 153-NQ/TW)
Ban Chấp hành Trung ương Nghị quyết Về công tác cán bộ nữ: Đề ra phương châm "tích cực bồi dưỡng, mạnh bạo sử dụng và đề bạt; vừa mạnh bạo sử dụng, đề bạt, vừa tích cực và chủ động bồi dưỡng".
Ngày 8/3/1967
(Nghị quyết số 31-CP)
Hội đồng Chính phủ Nghị quyết Về việc tăng cường lực lượng lao động nữ trong các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước: Quy định chỉ tiêu lao động nữ phải căn cứ đặc điểm sinh lý, mức chênh lệch định mức không vượt quá 11% so với nam giới.
Ngày 30/6/1967 Bộ Chính trị Nghị quyết Về công tác lao động: Khẳng định lực lượng phụ nữ chiếm trên 50% lực lượng lao động xã hội, yêu cầu tạo điều kiện phù hợp với sức khỏe và sinh hoạt của nữ giới.
  • Nội dung 3 đảm đang:
    1. Đảm đang sản xuất và công tác thay thế nam giới đi chiến đấu.
    2. Đảm đang gia đình, động viên chồng con, anh em đi chiến đấu.
    3. Đảm đang phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu.
  • Kết quả chỉ đạo thực tiễn: Phụ nữ tham gia quản lý hợp tác xã nông nghiệp, xí nghiệp công nghiệp (tiêu biểu như phong trào thâm canh đạt 5 tấn thóc/ha tại tỉnh Thái Bình năm 1966); phụ nữ tham gia dân quân tự vệ, trực tiếp bắn rơi máy bay Mỹ, bảo đảm giao thông liên lạc (tấm gương Mẹ Suốt ở Quảng Bình, Ngô Thị Tuyển ở Thanh Hóa, Mẹ Cán ở Sơn La, Mẹ Đích ở Thái Bình...).

Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với phụ nữ miền Bắc từ năm 1969 đến năm 1975

Chương 3 luận giải sự chuyển hướng chỉ đạo của Đảng trong bối cảnh Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc cuối năm 1968, chuyển sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (1969), đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng không quân năm 1972, ký kết Hiệp định Paris năm 1973 và cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975.

  • Giai đoạn 1969-1972: Đảng chỉ đạo phụ nữ miền Bắc khôi phục kinh tế, đẩy mạnh sản xuất nông - công nghiệp, chăm sóc thương bệnh binh, thực hiện chính sách hậu phương quân đội; kiên cường phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu trong đợt tập kích chiến lược bằng B-52 của đế quốc Mỹ cuối năm 1972.
  • Giai đoạn 1973-1975: Sau Hiệp định Paris (1/1973), Đảng lãnh đạo phụ nữ khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhanh chóng ổn định đời sống, khôi phục các công trình kinh tế, thủy lợi; tổ chức Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IV (tháng 3/1974) nhằm xác định nhiệm vụ lao động sản xuất mới; dồn sức chi viện tối đa sức người, sức của cho chiến trường miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết những ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học lịch sử của cuộc vận động phụ nữ miền Bắc giai đoạn 1965-1975:

  • Ưu điểm:
    • Đảng đã khơi dậy truyền thống yêu nước và tiềm năng to lớn của phụ nữ, huy động thành công lực lượng nữ giới vào hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng hậu phương lớn và bảo vệ miền Bắc, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam.
    • Từng bước nâng cao vị thế chính trị, kinh tế, xã hội của phụ nữ thông qua việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ.
    • Gắn kết cuộc vận động sản xuất, chiến đấu với công tác bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và giải phóng phụ nữ.
  • Hạn chế:
    • Một số cấp ủy Đảng và chính quyền chưa nhận thức sâu sắc đường lối phụ vận, còn tư tưởng coi nhẹ công tác phụ nữ.
    • Tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở nhiều nơi phát triển còn chậm, chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ trong thực tế.
    • Việc phân bổ và bảo vệ sức khỏe lao động nữ ở một số cơ sở nông thôn, xí nghiệp chưa được thực hiện đầy đủ; điều kiện phúc lợi xã hội (nhà trẻ, mẫu giáo) còn thiếu thốn do chiến tranh.
    • Một bộ phận phụ nữ còn mang nặng tư tưởng tự ti, ỷ lại tàn dư phong kiến.
  • Một số kinh nghiệm lịch sử:
    1. Tăng cường nhận thức và sự lãnh đạo toàn diện, thường xuyên của cấp ủy Đảng đối với công tác phụ vận, coi đây là nhiệm vụ mang tính chiến lược của toàn bộ hệ thống chính trị.
    2. Thực hiện nhất quán phương châm kết hợp chặt chẽ giữa động viên, huy động sức lao động với chăm lo bồi dưỡng, nâng cao đời sống và bảo vệ sức khỏe phụ nữ.
    3. Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và mạnh dạn quy hoạch, bố trí, đề bạt cán bộ nữ vào các cơ quan lãnh đạo các cấp.
    4. Phát huy tối đa vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong việc tập hợp quần chúng, đổi mới phương thức hoạt động và tham mưu chính sách cho Đảng, Nhà nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong chuyên ngành Lịch sử Đảng nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về cuộc vận động phụ nữ miền Bắc của Đảng Lao động Việt Nam trong suốt giai đoạn 1965-1975.
  • Đổi mới cách tiếp cận nghiên cứu lịch sử Đảng bằng việc kết hợp liên ngành với lý thuyết giới và khoa học chính trị, chứng minh một cách khoa học rằng cuộc vận động phụ nữ của Đảng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và tư liệu

  • Khai thác, hệ thống hóa và xử lý một khối lượng lớn tư liệu sơ cấp từ Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng (đặc biệt là các Nghị quyết 152, 153 của Trung ương, Chỉ thị 99 của Ban Bí thư, Nghị quyết 31-CP của Hội đồng Chính phủ), kết hợp với tư liệu điền dã thực địa tại các tỉnh/thành phố Phú Thọ, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội.
  • Đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn phục vụ việc hoạch định chính sách dân vận, bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Do điều kiện kinh phí và khả năng tiếp cận, tác giả chưa thể trực tiếp khai thác các nguồn sử liệu lưu trữ tại nước ngoài (đặc biệt là các tài liệu, hồ sơ lưu trữ tại Hoa Kỳ liên quan đến phong trào phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh). Ngoài ra, nguồn tư liệu điền dã chủ yếu dựa trên lời kể nhân chứng nên mang tính chủ quan nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khai thác các nguồn tư liệu ngoại quốc và nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa phong trào phụ nữ hai miền Nam - Bắc trong thời kỳ 1954-1975.
    • Nghiên cứu quá trình chuyển đổi vai trò và vị thế của phụ nữ Việt Nam từ thời chiến sang thời kỳ tái thiết đất nước và Đổi mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Xã hội học, Giới và Phát triển. Đặc biệt có giá trị ở Chương 1 (tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết nữ quyền) và Chương 2 (khung chính sách, nghị quyết của Đảng giai đoạn 1965-1968).
  • Cán bộ công tác Đảng, Ban Dân vận, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Tham khảo các bài học kinh nghiệm ở Chương 4 về phương thức lãnh đạo công tác quần chúng, chính sách đào tạo, sử dụng cán bộ nữ và bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong lao động.
  • Các nhà hoạch định chính sách: Sử dụng các luận cứ lịch sử để xây dựng thể chế, chính sách lao động nữ và chiến lược quốc gia về bình đẳng giới.

Câu hỏi thường gặp

1. Phong trào "Ba đảm đang" có nguồn gốc hình thành từ đâu và gồm những nội dung cụ thể nào?
Phong trào bắt nguồn từ phong trào "Ba đảm nhiệm" do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động vào tháng 3/1965 tại Hà Nội. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gợi ý đổi tên thành "Ba đảm đang". Ba nội dung cốt lõi gồm: (1) Đảm đang sản xuất và công tác thay thế nam giới đi chiến đấu; (2) Đảm đang gia đình, động viên chồng con, anh em đi chiến đấu; (3) Đảm đang phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra phương châm gì trong công tác cán bộ nữ tại Nghị quyết số 153-NQ/TW ngày 10/1/1967?
Nghị quyết 153-NQ/TW xác định phương châm công tác cán bộ nữ của Đảng là: "Tích cực bồi dưỡng, mạnh bạo sử dụng và đề bạt; vừa mạnh bạo sử dụng, đề bạt, vừa tích cực và chủ động bồi dưỡng để sử dụng, đề bạt được tốt, đề bạt rồi phải tiếp tục bồi dưỡng và sử dụng tốt".

3. Nghị quyết số 31-CP ngày 8/3/1967 của Hội đồng Chính phủ quy định mức chênh lệch chỉ tiêu lao động nữ như thế nào?
Nghị quyết 31-CP quy định: Căn cứ vào đặc điểm sinh lý và chức năng sinh đẻ, nuôi con của phụ nữ, khi định chỉ tiêu sử dụng lao động nữ, các ngành, các cấp quy định tỷ lệ chênh lệch thích đáng so với nam giới, nhưng không được vượt quá tỷ lệ chênh lệch bình quân chung là 11%.

4. Luận án đã sử dụng những nguồn sử liệu sơ cấp chủ yếu nào và khảo sát điền dã tại những địa bàn nào?
Nguồn sử liệu sơ cấp gồm bộ Văn kiện Đảng toàn tập (từ tập 26 đến 36), Hồ Chí Minh toàn tập, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng. Tác giả đã tổ chức điền dã, phỏng vấn nhân chứng lịch sử tại 4 địa phương: Phú Thọ, Thái Bình, Nam Định và Hà Nội.

5. Luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giải phóng phụ nữ và giải phóng xã hội được luận án trích dẫn ra sao?
Hồ Chủ tịch khẳng định: "Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa".


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Phương đã tái hiện một cách hệ thống, khách quan toàn bộ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với phụ nữ miền Bắc trong giai đoạn 1965-1975. Thông qua việc tiếp cận liên ngành giữa lịch sử Đảng và nghiên cứu giới, công trình làm rõ những đóng góp to lớn của phụ nữ trong lao động sản xuất, xây dựng hậu phương và tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Các bài học kinh nghiệm được luận án tổng kết từ phong trào "Ba đảm đang" và công tác cán bộ nữ giai đoạn này cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn sâu sắc cho công tác phụ vận và chính sách bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.