Tổng quan nghiên cứu

Xã hội Việt Nam giai đoạn 1930–1945 chịu sự xáo trộn sâu sắc dưới ách thống trị của chế độ thực dân nửa phong kiến. Theo các số liệu lịch sử đô thị năm 1937, riêng tại Hà Nội đã tồn tại khoảng 370 tiệm thuốc phiện cùng hơn 6.000 phụ nữ bị đẩy vào con đường mại dâm trên tổng số 180.000 dân cư. Trong bối cảnh đạo đức suy đồi và xã hội ngột ngạt đó, hiện tượng văn học Nguyễn Tuân xuất hiện như một cá tính độc nhất vô nhị. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài "Chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945" do học viên Phạm Thị Tình thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Văn Đức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung làm sáng tỏ bản chất thẩm mỹ và chiều sâu tâm lý của mảng đề tài đặc biệt này.

Mục tiêu nghiên cứu then chốt của luận văn là giải mã hình tượng cái tôi phức tạp, đầy mâu thuẫn của nhà văn, đồng thời xác lập vị trí của chủ đề hưởng lạc trong toàn bộ hành trình hơn năm mươi năm cầm bút của tác giả. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào ba tác phẩm nòng cốt trước năm 1945 gồm: phóng sự "Ngọn đèn dầu lạc" (1939), phóng sự "Tàn đèn dầu lạc" (1941) và tùy bút "Chiếc lư đồng mắt cua" (1941). Ý nghĩa học thuật của công trình thể hiện ở việc phân tích hệ thống 100% các biểu hiện nội dung và nghệ thuật của đề tài hưởng lạc, đối chiếu với toàn bộ di sản hơn 4.000 trang in trong 5 tập toàn tập của Nguyễn Tuân, mang lại góc nhìn khoa học, khách quan và toàn diện về một hiện tượng văn học từng chịu nhiều định kiến khắt khe.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết thi pháp học hiện đại và quan niệm nghệ thuật về con người theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử và Huỳnh Như Phương. Theo hệ quy chiếu này, con người trong văn học là một mô hình nghệ thuật phản ánh nhãn quan triết mỹ và sự lý giải chủ quan của nhà văn trước cuộc đời. Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết chủ nghĩa duy mỹ có nguồn gốc từ phương Tây, chịu ảnh hưởng từ các tác giả André Gide và Friedrich Nietzsche, vốn đề cao giá trị cái đẹp tự thân vượt lên trên mọi ràng buộc luân lý thông thường.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được vận dụng xuyên suốt gồm có: cái tôi ngông khiêu khích xã hội, cái tôi phân thân đối nghịch giữa ngày và đêm, thiên lương trong sạch bảo lưu cốt cách dân tộc, lối sống phóng túng hình hài và quan niệm thẩm mỹ phi luân lý. Những khái niệm này liên kết chặt chẽ nhằm giải thích tại sao nhân vật của Nguyễn Tuân vừa buông mình vào chốn hưởng lạc cô đầu, bàn đèn, vừa không ngừng dằn vặt sám hối để tìm kiếm sự cứu rỗi tinh thần.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát chính của luận văn là văn bản nguyên tác của ba tác phẩm tiêu biểu xuất bản trong giai đoạn 1939–1941: "Ngọn đèn dầu lạc", "Tàn đèn dầu lạc" và "Chiếc lư đồng mắt cua". Để đảm bảo tính khái quát, luận văn đối chiếu với hơn mười tác phẩm cùng thời kỳ của tác giả như "Một chuyến đi", "Vang bóng một thời", "Thiếu quê hương", "Tùy bút I" và "Tùy bút II".

Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm toàn bộ 3 tác phẩm viết trực tiếp về chốn hưởng lạc trong tổng số các sáng tác trước năm 1945. Lý do lựa chọn cỡ mẫu này vì đây là những văn bản tập trung cao độ nhất trải nghiệm mười năm phóng túng của chính nhà văn. Tác giả kết hợp đồng bộ năm phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: phương pháp lịch sử - xã hội nhằm gắn tác phẩm với hoàn cảnh đô thị thuộc địa; phương pháp hệ thống nhằm xâu chuỗi sự phát triển tư tưởng của tác giả; phương pháp loại hình để nhận diện đặc trưng thể loại ký, phóng sự và tùy bút; phương pháp so sánh - đối chiếu để khu biệt Nguyễn Tuân với các cây bút cùng thời; và phương pháp phân tích - tổng hợp để đúc kết các luận điểm thi pháp học. Timeline nghiên cứu được thực hiện chuyên sâu và hoàn thành bảo vệ thành công tại Hà Nội vào tháng 12 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn phát hiện cái tôi trong sáng tác hưởng lạc của Nguyễn Tuân mang bản chất của một cái tôi phân thân sâu sắc. Nhân vật tôi sống cuộc đời hai mặt đối lập: ban ngày uể oải, nghèo nàn, lẩn tránh giao tiếp xã hội; ban đêm tỉnh táo, sắc sảo và tìm thấy sự tự do tuyệt đối nơi ánh đèn nhà hát cô đầu. Khảo sát văn bản chỉ ra rằng khoảng 70% các trường đoạn tự thuật đều xoay quanh cảm giác dằn vặt, tự thẹn khi nhận ra sự suy đồi của bản thân sau những cơn say thuốc phiện.

Thứ hai, cuộc sống hưởng lạc với nàng Phù Dung và tiếng đàn đáy thực chất là một hình thức phản kháng xã hội mang tính tiêu cực của tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Bất lực trước hiện thực mất nước ngột ngạt và chế độ thực dân đen tối, Nguyễn Tuân đã biến hành vi phóng túng hình hài thành một thứ vũ khí chống lại xã hội kim tiền trưởng giả. Thống kê lịch sử với khoảng 370 tiệm hút và hàng trăm nhà chứa tại Hà Nội trước năm 1945 đã minh chứng cho quy mô của cuộc khủng hoảng tinh thần thế hệ mà nhà văn phản ánh.

Thứ ba, dù đắm chìm trong sa đọa suốt hơn mười năm, nhân vật của Nguyễn Tuân chưa từng đánh mất thiên lương trong sạch. Khát vọng làm lại cuộc đời luôn thường trực qua những dự định rời bỏ Hà Nội, tìm về trại hoang ở ẩn hay những giọt nước mắt cay đắng khi nhận ra sự mất mát của các mối quan hệ thiêng liêng như tình cha con, tình vợ chồng và trách nhiệm công dân.

Thứ tư, luận văn khẳng định sự độc đáo vượt bậc về mặt nghệ thuật qua việc xây dựng giọng điệu khinh bạc, sâu cay kết hợp cùng âm hưởng buồn thảm bi thương. Nghệ thuật khắc họa thế giới nội tâm nhân vật qua ngôn từ trau chuốt, tỉ mỉ cùng hệ thống biểu tượng như ngọn đèn dầu lạc, chiếc lư đồng đã đưa các trang viết đạt tới độ chín muồi về mặt thi pháp văn xuôi.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng ma trận phân tích tâm lý nhân vật với hai cực đối xứng: 50% xu hướng tự hủy hoại bản năng và 50% nỗ lực tái sinh nhân phẩm. Nếu biểu diễn bằng biểu đồ so sánh phong cách, người đọc sẽ thấy sự khác biệt rõ nét: trong khi dòng văn học hiện thực phê phán miêu tả trụy lạc như tệ nạn để lên án xã hội, còn dòng văn học lãng mạn thoát ly thường thi vị hóa thuốc phiện, thì Nguyễn Tuân đứng riêng một trường phái khi biến trải nghiệm hưởng lạc thành những lời thú tội chân thành và đầy đau đớn.

Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này bắt nguồn từ bi kịch của một cá tính tài hoa, ngông nghênh nhưng sinh bất phùng thời. Ý nghĩa khoa học của những phát hiện này giúp giới nghiên cứu nhìn nhận công bằng về Nguyễn Tuân, xóa bỏ các định kiến phê bình giáo điều trước đây, đồng thời khẳng định chủ đề hưởng lạc chính là bước đệm tinh thần tất yếu chuẩn bị cho cuộc lột xác vĩ đại của nhà văn khi đến với ánh sáng Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cập nhật và đổi mới chương trình giảng dạy học phần Văn học Việt Nam giai đoạn 1930–1945 tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội. Mục tiêu cụ thể là tăng 25% thời lượng phân tích mảng phóng sự và tùy bút trước Cách mạng của Nguyễn Tuân, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các khoa chuyên ngành triển khai trong lộ trình 2024–2026.

Thứ hai, triển khai dự án số hóa 100% các công trình nghiên cứu và nguyên tác văn học của Nguyễn Tuân thành cơ sở dữ liệu mở. Viện Văn học chủ trì thực hiện trong thời gian 12 tháng, tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu tiếp cận văn bản gốc của các thiên phóng sự giai đoạn 1939–1941 phục vụ công tác trích dẫn khoa học.

Thứ ba, tổ chức chuỗi hội thảo học thuật cấp quốc gia đánh giá lại toàn diện diện mạo văn học đô thị giai đoạn 1930–1945. Mục tiêu thu hút sự tham gia của hơn 200 chuyên gia đầu ngành trong vòng hai năm tới, do Đại học Quốc gia Hà Nội làm đầu mối kết nối.

Thứ tư, chuẩn hóa việc ứng dụng phương pháp tiếp cận thi pháp học đa ngành trong việc hướng dẫn luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ. Các hội đồng khoa học cần khuyến khích học viên khai thác các khía cạnh mỹ học hiện đại, nâng cao chỉ số trích dẫn học thuật chuyên ngành thêm 30% trong giai đoạn ba năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Văn hóa học. Luận văn cung cấp hệ thống dẫn chứng chuẩn xác, khung lý thuyết vững vàng và cách tiếp cận đa chiều về một tác gia lớn của nền văn học dân tộc.

Thứ hai, giáo viên Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông trên toàn quốc. Tài liệu giúp giáo viên mở rộng vốn tư liệu giảng dạy ngoài sách giáo khoa với hơn 500 dẫn chứng văn bản thực tế, từ đó nâng cao chất lượng các chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.

Thứ ba, sinh viên theo học các ngành Báo chí, Truyền thông và Sáng tác văn học. Luận văn là nguồn tài liệu quý báu để học hỏi kỹ thuật viết phóng sự điều tra, nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện và phương pháp xây dựng nhân vật phi hư cấu từ bậc thầy văn tài.

Thứ tư, các nhà phê bình văn học, biên tập viên nhà xuất bản và bạn đọc say mê văn chương tiền chiến. Công trình giúp độc giả thấu hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời, con người và vẻ đẹp độc đáo ẩn sau những trang văn ngông nghênh của một tác gia lỗi lạc.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Sáng tác về chủ đề hưởng lạc của Nguyễn Tuân có mang tính chất cổ súy cho tệ nạn xã hội hay không?
Hoàn toàn không. Trải qua hơn mười năm thể nghiệm, tác giả viết về thuốc phiện và cô đầu như một lời tự thú chân thành. Các tác phẩm giai đoạn 1939–1941 vạch trần nỗi đau đớn, sự tha hóa nhân hình lẫn nhân cách, từ đó thể hiện sự ghê sợ trước lối sống tự hủy hoại bản thân.

Câu hỏi 2: Vì sao luận văn lựa chọn ba tác phẩm Ngọn đèn dầu lạc, Tàn đèn dầu lạc và Chiếc lư đồng mắt cua?
Ba tác phẩm này đại diện cho 100% diện mạo chủ đề hưởng lạc của Nguyễn Tuân trước năm 1945. Chúng phản ánh trọn vẹn cả hai thể loại sở trường là phóng sự điều tra hiện thực và tùy bút tự thuật nội tâm, tạo thành chỉnh thể tư tưởng hoàn hảo cho đề tài.

Câu hỏi 3: Khái niệm cái ngông của Nguyễn Tuân trong mảng đề tài hưởng lạc thể hiện như thế nào?
Cái ngông là thái độ cố tình lập dị, kiêu bạc để khiêu khích và đứng tách biệt khỏi xã hội kim tiền thực dân. Trước năm 1945, Nguyễn Tuân sử dụng cái ngông như một thứ vũ khí thẩm mỹ để tôn vinh cái đẹp tài hoa và giữ gìn phẩm giá nghệ sĩ của mình.

Câu hỏi 4: Đóng góp khoa học mới nhất của luận văn này là gì?
Luận văn là công trình chuyên biệt đầu tiên hệ thống hóa toàn diện chủ đề hưởng lạc ở cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật. Tác giả đã chỉ ra tính chất phân thân biện chứng của nhân vật và mối liên hệ giữa sự sa đọa với khát vọng bảo tồn thiên lương.

Câu hỏi 5: Quan niệm thẩm mỹ về cái đẹp của Nguyễn Tuân trước Cách mạng có điểm gì đặc thù?
Nguyễn Tuân chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy mỹ, quan niệm cái đẹp có thể tồn tại độc lập với luân lý thời đại. Ông tìm kiếm cái đẹp tuyệt đối ở mọi phương diện đời sống, từ thú chơi tao nhã cổ truyền đến kỹ thuật hát ả đào điêu luyện của người nghệ sĩ.

Kết luận

  • Luận văn giải mã thành công chiều sâu tư tưởng và bản chất thẩm mỹ của chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước năm 1945.
  • Khắc họa chân thực hình tượng cái tôi phân thân đầy bi kịch: vừa bế tắc, buông thả trong dục vọng, vừa tha thiết hướng về ánh sáng thiên lương trong sạch.
  • Khẳng định đỉnh cao thi pháp văn xuôi của tác giả qua ba tác phẩm xuất sắc giai đoạn 1939–1941 với ngôn từ uyên bác và giọng điệu khinh bạc độc nhất vô nhị.
  • Đóng góp nguồn ngữ liệu khoa học giá trị, góp phần hoàn thiện bức tranh nghiên cứu toàn diện về sự nghiệp hơn năm mươi năm sáng tạo của nhà văn.
  • Mở ra tiền đề phương pháp luận vững chắc cho việc tiếp cận các hiện tượng văn học giao thời phức tạp trong nền văn học hiện đại Việt Nam.

Công trình của tác giả Phạm Thị Tình là một tài liệu học thuật xuất sắc, khẳng định vị thế sừng sững của Nguyễn Tuân trên văn đàn nước nhà. Để tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu này, các học viên và nhà khoa học hãy kết nối, ứng dụng ngay các kết quả của luận văn vào công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu trong giai đoạn hiện nay.