Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đề tài 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến cung ứng dịch vụ hành chính công Nâng cao chất lượng cung ứng DVHCC là một trong những mục tiêu quan trọng của CCHC và vận hành bộ máy nhà nước theo mô hình quản lý công mới, góp phần xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển. Cùng với lý do DVHCC có liên quan mật thiết đến hoạt động thực thi pháp luật và do các cơ quan nhà nước cung ứng, nên việc đẩy mạnh nghiên cứu về cung ứng DVHCC đang được nhiều chính phủ và các nhà khoa học nghiên cứu trong thời gian qua.
Các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài Do cách phân loại dịch vụ công (DVC) chưa có sự đồng nhất giữa các quốc gia và các khu vực trên thế giới, nhiều nước không sử dụng khái niệm DVHCC mà chỉ sử dụng khái niệm DVC với nghĩa đó là tất cả những dịch vụ nào thuộc về chức năng và trách nhiệm của nhà nước (Lê Chi Mai, 2003). Song các nước đều mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của các DVC do các cơ quan hành chính nhà nước cung cấp. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới đã thống nhất quan niệm: Khu vực công cốt lõi bao gồm các dịch vụ (chủ yếu là hàng hóa và DVC thuần túy) mà chính phủ là người duy nhất cung cấp và mọi công dân bắt buộc phải nhận khi có nhu cầu về chúng. Chính phủ cung cấp các loại dịch vụ này dựa trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc QLNN.
Có thể liệt kê một số dịch vụ đó như: pháp luật, an ninh, quốc phòng, các nguồn phúc lợi xã hội, môi trường và phòng dịch, cấp giấy sở hữu (tài sản, nhà đất), giấy tờ tùy thân (hộ chiếu, visa, chứng minh thư), giấy chứng nhận (khai sinh, khai tử, hôn thú), đăng ký thành lập (doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức) … (World bank, 1997) Như vậy Ngân hàng Thế giới và nhiều quốc gia coi tất cả các hoạt động của bộ máy nhà nước đều là DVC, điều này được lý giải bởi một số quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều không phân biệt giữa hoạt động QLNN và hoạt động cung ứng DVHCC, mà chỉ có sự phân biệt giữa hoạt động xây dựng chính sách với thực thi chính sách, ở đó nhà nước can thiệp rất ít vào hoạt động của thị trường nên các loại dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước cung ứng (hoặc các hoạt động mang tính chất xin - cho) được thu gọn rất nhiều, cùng với đó việc ứng dụng công nghệ thông tin (ƯDCNTT) trong quản lý và cung ứng dịch vụ luôn được đẩy mạnh nên dịch vụ cấp cho công dân luôn nhanh gọn, tiện lợi, chính vì thế khái niệm DVHCC 11 không tồn tại một cách độc lập. Tuy nhiên phần nhiều quốc gia đều coi cải cách các dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện là nội dung quan trọng nhất hiện nay của cải cách DVC. Do mỗi DVHCC luôn gắn liền với một hoặc một số TTHC để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân, nên trên thế giới có nhiều công trình tập trung nghiên cứu về các TTHC. Điển hình là công trình nghiên cứu của Javier Barnes trong “Transforming Administrative Procedure”, tác giả cho rằng: Thủ tục hành chính cho thấy vị trí và vai trò của công dân trước chính quyền và cách các cơ quan nhà nước tương tác với nhau.
Thủ tục hành chính là một trong những nền tảng cơ bản của luật hành chính ngày nay. Thủ tục hành chính bù đắp cho việc thiếu hụt các tiêu chuẩn pháp lý trong các luật hiện hành, do đó nó mang lại tính hợp pháp và dân chủ hơn cho các hoạt động hành chính và việc giải quyết các mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính với công dân. Vì vậy, TTHC không chỉ là một quá trình ra quyết định, mặc dù đây là một trong những khía cạnh truyền thống và quan trọng, nó cũng mở rộng sang các lĩnh vực khác và phục vụ để thiết lập các tiêu chí hướng dẫn các hoạt động nội bộ của cơ quan hành chính công, các hoạt động hành chính liên quốc gia (Javier Barnes, 2015). Dragos trong công trình “Administrative procedure” nhận thấy nhiều Luật hành chính chung của nhiều nước trên thế giới chỉ đề cập đến thuật ngữ mà không xác định rõ những đặc trưng của TTHC.
Dragos quan niệm rằng: Thủ tục hành chính liên quan đến các phương pháp và quy trình của các cơ quan hành chính. Thủ tục hành chính có thể được coi là sự tiếp nối các hành vi và nghiệp vụ do cơ quan hành chính ban hành hoặc thực hiện theo quy định nhằm đảm bảo hoạt động của mình và để phân xử về quyền, lợi ích và nghĩa vụ của các bên liên quan hoặc quyết định dựa trên lợi ích công cộng. Các giai đoạn của TTHC tuân theo trình tự nhất định theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào cách thức soạn thảo luật TTHC, nội dung của thủ tục có thể khác nhau, tác giả đã chỉ ra những thành phần quan trọng của các TTHC là: (1) Bắt đầu: Các TTHC được khởi xướng bởi kiến nghị hoặc yêu cầu được giải quyết của một cá nhân hoặc một pháp nhân đối với một cơ quan hành chính.
Đôi khi, TTHC xuất phát từ luật pháp hoặc các quy phạm pháp luật khác để ràng buộc đối với cơ quan hành chính; (2) Thẩm quyền: Cơ quan hành chính phải căn cứ thẩm quyền của mình để giải quyết TTHC thuộc thẩm quyền của mình hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết; 12 (3) Xem xét hồ sơ: Cơ quan hành chính tiến hành xem xét, thẩm định các hồ sơ. Hồ sơ có thể là các chứng cứ pháp lý được gửi kèm hoặc trong CSDL sẵn có. Nếu cơ quan quản lý cần có ý kiến chuyên gia về hồ sơ, những ý kiến đó sẽ được đưa vào quy trình; (4) Các nguyên tắc thực hiện TTHC bao gồm tính hợp pháp, minh bạch, tiếp cận thông tin, công bằng, vô tư, đối xử bình đẳng và không phân biệt đối xử, tính khách quan, tính chính xác và tính bảo mật của dữ liệu cá nhân, kiểm soát và trách nhiệm pháp lý; (5) Các giới hạn về thời gian thực hiện TTHC phải được tuân thủ bởi tất cả các bên liên quan. Gia hạn và tính toán giới hạn thời gian là những việc cần tính tới trong quy trình, thủ tục.
Từ những điểm cơ bản trên, Dacian C. Dragos nhận định rằng, TTHC là nền tảng của luật hành chính, do đó cần quan tâm đến quy tắc và sự ổn định của nó trong khoảng thời gian đủ dài. Theo truyền thống thì các hệ thống TTHC của mỗi quốc gia, thường là khác nhau và phần lớn là không có các quy tắc chung. Trong khi đó, theo xu thế hội nhập thì các TTHC ngày càng phải tương đồng theo nguyên tắc chung của quốc tế và khu vực.
Do đó, lý tưởng có các TTHC tương đồng trên toàn cầu sẽ có thể thực hiện được. Các Luật hành chính của các quốc gia khác nhau có thể so sánh được và chúng có cùng các nguyên tắc và quy định của Luật hành chính (Dacian C. Phần nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến TTHC hoặc DVHCC đều xác định các quốc gia trên thế giới cần đẩy mạnh hơn nữa việc đơn giản hóa TTHC và giảm gánh nặng chi phí tuân thủ các TTHC cho công dân và cộng đồng. Trong công bố nghiên cứu của Chủ tịch EUPAN (European Public Administration Network) năm 2014 về đơn giản hóa TTHC và giảm gánh nặng hành chính (Simplification of administrative procedures-Reduction of administrative burdens) đã cho rằng thuật ngữ đơn giản hóa hành chính đề cập đến việc xem xét có hệ thống và liên tục các hành vi và quy định pháp lý (bao gồm các hành vi cấp bộ, các quyết định chung của bộ trưởng, thông tư, v.) cũng như để tái cấu trúc các TTHC theo nguyên tắc hiệu lực, hiệu quả và cung cấp dịch vụ có chất lượng cho người dân và doanh nghiệp.
Đơn giản hóa hành chính nhằm giảm bớt các thủ tục và thủ tục giấy tờ nặng nề, lỗi thời và không cần thiết, nó chính là một công cụ chất lượng theo quy định để xem xét và đơn giản hóa các quy định hành chính (EUPAN, 2014). Trong báo cáo cũng đã tổng kết những kết quả về cải cách các TTHC theo hướng đơn giản hóa và giảm gánh nặng hành chính ở các quốc gia thành viên Châu Âu. Các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước Việc nghiên cứu về DVHCC luôn gắn liền với quá trình cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt là cải cách TTHC. Đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong nước có liên quan trực tiếp đến các vấn đề cơ bản của DVHCC, điển hình là: Nghiên cứu về bản chất, các đặc trưng của DVHCC và các giải pháp để cải cách DVHCC có các tác giả Lê Chi Mai, Chu Văn Thành, Nguyễn Đình Phan.
Trong công trình “Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam” (Lê Chi Mai, 2003), tác giả đã có những nghiên cứu về bản chất và đặc trưng cơ bản của DVHCC; các loại hình cơ bản của DVHCC; đánh giá về thực trạng cung ứng DVHCC trong những năm trước 2003, đặc biệt là việc đánh giá về mô hình một cửa trong cung ứng DVHCC của các cơ quan hành chính nhà nước; đồng thời tác giả cũng đã đề xuất 5 giải pháp cải cách DVHCC. Tiếp nối những kết quả nghiên cứu của Lê Chi Mai, tác giả Chu Văn Thành trong công trình “Dịch vụ công – Đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay” đã làm rõ thêm một số đặc tính cơ bản của DVHCC, đồng thời nghiên cứu về thực trạng cung ứng DVHCC và đề ra các phương hướng cải cách DVHCC thông qua 4 giải pháp cơ bản (Chu Văn Thành, 2007). Còn tác giả Nguyễn Đình Phan trong công trình “Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công ở thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập” đã cụ thể hóa các kết quả nghiên cứu cơ bản về DVHCC để áp dụng vào thành phố Hà Nội thông qua việc đánh giá thực trạng chất lượng cung ứng DVHCC ở Hà Nội và nghiên cứu về kinh nghiệm cải cách hành chính công của một số quốc gia trên thế giới và một số thành phố lớn ở Việt Nam, từ đó đề ra 6 giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng DVHCC ở Hà Nội (Nguyễn Đình Phan, 2010).