Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dịch vụ hành chính công (DVHCC) là nhóm dịch vụ gắn liền với hoạt động thực thi pháp luật và chức năng quản lý nhà nước, tác động trực tiếp đến hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp và đời sống người dân. Trong tiến trình xây dựng nền hành chính phục vụ, cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và nâng cao chất lượng cung ứng DVHCC luôn là nội dung trọng tâm qua các giai đoạn: Nghị quyết số 38-CP (năm 1994), Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2020. Mặc dù đã đạt được kết quả về công khai thủ tục và đơn giản hóa một số lĩnh vực (thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội), các báo cáo khảo sát thực tế hàng năm (PAPI, SIPAS, APCI) chỉ ra nhiều hạn chế kéo dài: TTHC còn rườm rà, tình trạng chậm trễ trong xử lý hồ sơ còn phổ biến, người dân phải đi lại nhiều lần, và chi phí tuân thủ TTHC vẫn ở mức cao so với khu vực ASEAN và OECD.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với sự phát triển của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và điện toán đám mây mở ra khả năng chuyển đổi phương thức quản trị và cung ứng dịch vụ công trên môi trường số, tiêu biểu như mô hình của Estonia (hơn 99% dịch vụ trực tuyến hoàn toàn) hay Singapore (95% giao dịch số). Tại Việt Nam, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu chủ động tham gia CMCN 4.0, tái cấu trúc TTHC và phấn đấu giảm 30% số lượng DVHCC vào năm 2030. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng chuyển đổi số quốc gia còn gặp rào cản về hạ tầng kỹ thuật, hành lang thể chế và năng lực nguồn nhân lực. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Phân tích toàn diện tác động của CMCN 4.0 đến phương thức cung ứng DVHCC và các điều kiện đảm bảo, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chuyển đổi phương thức cung ứng DVHCC phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0, luận án đề xuất các giải pháp cung ứng DVHCC phù hợp với bối cảnh CMCN 4.0 ở Việt Nam, góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến cung ứng DVHCC và cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0, chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về DVHCC và cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0, xác định rõ các tác động của CMCN 4.0 đến hoạt động này.
- Nghiên cứu kinh nghiệm cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 của một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học cho Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp cung ứng DVHCC bảo đảm phù hợp với bối cảnh CMCN 4.0 nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
- Các câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động như thế nào đến hoạt động cung ứng DVHCC?
- Câu hỏi 2: Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 phụ thuộc vào những yếu tố nào?
- Câu hỏi 3: Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng nào và những điểm còn tồn tại, hạn chế là gì?
- Câu hỏi 4: Để cung ứng DVHCC phù hợp với bối cảnh CMCN 4.0 cần những giải pháp cơ bản nào?
- Các giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết (i): CMCN 4.0 tác động làm thay đổi phương thức cung ứng DVHCC từ trực tiếp sang trực tuyến dựa trên nền tảng số và làm thay đổi các điều kiện đảm bảo (thể chế, phương tiện, chủ thể cung ứng, người dùng dịch vụ).
- Giả thuyết (ii): Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố cơ bản: Thể chế, chính sách; Hạ tầng, nền tảng số; Năng lực của chủ thể cung ứng; Khả năng sử dụng DVHCC trên môi trường số của người dùng.
- Giả thuyết (iii): Việt Nam đã đạt nhiều kết quả trong chuyển đổi phương thức cung ứng và bước đầu chuẩn bị các điều kiện đảm bảo, nhưng quá trình thay đổi còn chậm và bộc lộ nhiều hạn chế so với yêu cầu thực tiễn.
- Giả thuyết (iv): Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 cần tập trung vào các nhóm giải pháp: Chuyển đổi sang trực tuyến toàn trình; Hoàn thiện thể chế; Xây dựng hạ tầng, nền tảng số; Nâng cao năng lực chủ thể cung ứng; Nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng của người dùng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 ở Việt Nam hiện nay, bao gồm phương thức cung ứng và các điều kiện đảm bảo cho cung ứng DVHCC.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào 4 thành phần cơ bản: phương thức cung ứng, chủ thể cung ứng, phương tiện và nền tảng số phục vụ cung ứng, người dùng DVHCC; giới hạn trong các DVHCC có thể số hóa và cung ứng trên môi trường số.
- Về thời gian: Tập trung chủ yếu từ năm 2011 đến năm 2022 (năm 2011 bắt đầu Chương trình tổng thể CCHC 2011-2020 và khái niệm Industrie 4.0 được giới thiệu; năm 2022 hoàn thành luận án).
- Về không gian: Khảo sát hệ thống cung ứng DVHCC tại Việt Nam, tập trung vào Cổng Dịch vụ công Quốc gia, các bộ (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thương, Bộ Công an) và một số địa phương (Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Thanh Hóa, TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Đồng Nai); khảo sát kinh nghiệm quốc tế tại Estonia, Malaysia, Singapore.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề:
[Tổng quan tình hình nghiên cứu]
-
Nghiên cứu về DVC, DVHCC và thủ tục hành chính:
- Nghiên cứu quốc tế: Báo cáo của World Bank (1997) xác định khu vực công cốt lõi bao gồm các dịch vụ do chính phủ độc quyền cung ứng gắn với thẩm quyền pháp lý. Javier Barnes (2015) phân tích vai trò của TTHC trong việc xác lập quan hệ giữa công dân và chính quyền. Dacian C. Dragos (2014) hệ thống 5 thành phần của TTHC: bắt đầu, thẩm quyền, xem xét hồ sơ, các nguyên tắc thực hiện và giới hạn thời gian. Báo cáo của EUPAN (2014) nhấn mạnh việc rà soát liên tục nhằm đơn giản hóa thủ tục và giảm gánh nặng hành chính.
- Nghiên cứu trong nước: Lê Chi Mai (2003) phân tích bản chất, đặc trưng của DVHCC gắn với thẩm quyền hành chính - pháp lý của nhà nước. Chu Văn Thành (2007) làm rõ tính chất phục vụ không thu tiền của DVHCC và yêu cầu đổi mới quản lý công. Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa (2006), Đỗ Thị Hải Hà (2007), Nguyễn Đình Phan (2010), Vũ Quỳnh (2017) khẳng định DVHCC là dịch vụ thuần công, có tính độc quyền cao và không vận hành theo cơ chế thị trường thuần túy. Vũ Thư và Lê Hồng Sơn (2000), Nguyễn Trung Trực và Trương Quang Dũng (2003), Phạm Quốc Sử (2019) nghiên cứu về kiểm soát TTHC và áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO trong hành chính công.
-
Nghiên cứu thực nghiệm và đo lường sự hài lòng:
- Hệ thống các bộ chỉ số thường niên: PAPI (đánh giá hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh từ trải nghiệm của người dân), SIPAS (đo lường sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính qua 5 yếu tố), Par Index (đánh giá cải cách hành chính), APCI (đo lường chi phí tuân thủ TTHC).
- Các nghiên cứu điển hình: Cồ Như Dũng (2019) ứng dụng mô hình SERVQUAL và SERVPERF đánh giá sự hài lòng trong lĩnh vực xây dựng; Nguyễn Thùy Linh (2019) xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp với dịch vụ thuế trực tuyến (tính hiệu quả, bảo mật, thiết kế web, niềm tin hệ thống); Vũ Thị Hoài Phương (2019) phân tích các nhân tố chính trị, pháp lý, bộ máy, kinh tế và sự hợp tác của công dân ảnh hưởng đến chất lượng DVHCC.
-
Nghiên cứu về CMCN 4.0 và ứng dụng trong khu vực công:
- Klaus Schwab (2016, 2018) phân tích tác động của các nhóm công nghệ mới nổi (dữ liệu lớn, AI, IoT, blockchain, điện toán đám mây) và dự báo chính phủ sẽ chuyển đổi thành trung tâm dịch vụ công số hóa, đồng thời đối mặt với thách thức quản trị thích ứng.
- Petre Prisecaru (2016), Min Xu, Jeanne M. David và Suk Hi Kim (2018) nghiên cứu các cơ hội và thách thức của CMCN 4.0; Học viện Hành chính Quốc gia (2018) và Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị (2019) định hướng đổi mới quy trình hành chính phù hợp với chính quyền số.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
- Chưa có nghiên cứu hệ thống hóa đầy đủ những tác động trực tiếp của CMCN 4.0 làm thay đổi phương thức cung ứng DVHCC tại Việt Nam.
- Chưa có công trình giải quyết thấu đáo câu hỏi: Các công nghệ của CMCN 4.0 có thể tháo gỡ triệt để những điểm nghẽn kéo dài về thủ tục rườm rà, thời gian xử lý và chi phí tuân thủ hay không.
- Chưa có khung lý thuyết làm rõ cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 phụ thuộc vào những yếu tố nào và cơ chế vận hành của phương thức cung ứng dịch vụ trực tuyến toàn trình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm DVHCC của luận án: Là dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không vì mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Sản phẩm của DVHCC là các giấy tờ có giá trị pháp lý hoặc thông báo kết quả thực hiện. Mỗi DVHCC gắn liền với một hoặc một số TTHC.
- Khái niệm cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0: Là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng các nguồn lực công, nền tảng số và công nghệ số để tiếp nhận, xử lý và trả kết quả DVHCC cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng, hướng tới phương thức trực tuyến toàn trình không phụ thuộc vào thời gian và địa giới hành chính.
- Khung phân tích 4 thành phần: (1) Phương thức cung ứng; (2) Chủ thể cung ứng; (3) Phương tiện, hạ tầng và nền tảng số; (4) Người dùng dịch vụ.
- Khung 4 điều kiện đảm bảo: Thể chế, chính sách; Hạ tầng và nền tảng số; Năng lực của chủ thể cung ứng (cán bộ, công chức); Khả năng tiếp cận và kỹ năng số của người dùng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận theo hướng định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê thứ cấp và khảo sát thực tế:
| Phương pháp |
Nguồn tư liệu / Dữ liệu thực tế |
Mục đích áp dụng |
| Nghiên cứu tài liệu thứ cấp |
Văn kiện của Đảng (Nghị quyết 52-NQ/TW), văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định 45/2020/NĐ-CP, Nghị định 42/2022/NĐ-CP); Sách trắng CNTT-TT, Sách trắng TMĐT, Sách trắng Doanh nghiệp; Báo cáo PAPI, SIPAS, Par Index, APCI, Vietnam ICT Index. |
Xây dựng luận cứ lý luận; đánh giá thể chế và thực trạng hạ tầng, nhân lực, mức độ hài lòng. |
| Thu thập dữ liệu sơ cấp |
Diễn đàn cấp cao CNTT-TT (Vietnam ICT Summit), Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử, các hội thảo chuyển đổi số chuyên đề của bộ, ngành, địa phương. |
Thu thập ý kiến chuyên gia, đối chiếu các định hướng và dự báo giải pháp. |
| Khảo sát, quan sát Cổng DVC |
Cổng DVC Quốc gia (dichvucong.gov.vn); Cổng DVC các Bộ: TTTT, GTVT, Công thương, Công an; Cổng DVC các tỉnh: Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Hà Nội, TP.HCM, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Thanh Hóa, Tiền Giang, Đồng Nai; Cổng DVC quốc tế (Estonia, Singapore, Malaysia). |
Đo lường số lượng TTHC, mức độ cung ứng DVCTT mức 3, mức 4 và toàn trình; đánh giá tính trực quan, mức độ liên thông dữ liệu. |
| Phân tích, so sánh, tổng hợp |
Chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2011 - 2022; dữ liệu xếp hạng quốc tế (OSI, EDGI của Liên Hợp Quốc, xếp hạng đám mây khu vực châu Á). |
Khái quát hóa quy luật biến đổi, so sánh thực tiễn Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và rút ra bài học kinh nghiệm. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về ba mảng nội dung: dịch vụ hành chính công; đánh giá thực nghiệm cải cách hành chính; và tác động của CMCN 4.0 đến quản trị công. Luận án khẳng định các nghiên cứu trước đã làm rõ khái niệm, đặc điểm của DVHCC và vai trò độc quyền của nhà nước trong cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, các công trình chưa kết nối đầy đủ giữa sự biến đổi của công nghệ 4.0 với việc tái thiết kế phương thức cung ứng DVHCC tại Việt Nam, từ đó xác lập tính cần thiết và khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Cơ sở khoa học về cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Chương này xây dựng khung lý thuyết toàn diện về cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0. Tác giả phân tích các đặc trưng của DVHCC: gắn với thẩm quyền hành chính - pháp lý, không vì mục tiêu lợi nhuận, không phân phối theo quy luật thị trường và chi phí chủ yếu do ngân sách bảo đảm. Luận án phân tích sự dịch chuyển của 4 thành phần trong cung ứng DVHCC dưới tác động của công nghệ mới:
[Mô hình chuyển đổi 4 thành phần cung ứng DVHCC]
Luận án tổng hợp các tiêu chí đánh giá cung ứng DVHCC trong môi trường số và phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ ba quốc gia:
- Estonia: Xây dựng nền tảng trao đổi dữ liệu X-Road, định danh kỹ thuật số toàn dân, cung cấp hơn 99% dịch vụ công trực tuyến với thời gian xử lý nhanh và chi phí thấp.
- Singapore: Chiến lược Smart Nation, cổng SingPass tích hợp, cam kết cung ứng dịch vụ số trực quan, không dùng giấy tờ, thu thập dữ liệu một lần (Once-Only principle) và bảo mật cao.
- Malaysia: Triển khai cổng dịch vụ công tập trung MyGovernment và đẩy mạnh thanh toán điện tử.
Từ kinh nghiệm quốc tế, luận án rút ra 4 bài học: hoàn thiện thể chế số; ưu tiên chia sẻ dữ liệu liên thông; lấy trải nghiệm người dùng làm trung tâm; và đào tạo kỹ năng số cho công chức.
Chương 3: Thực trạng cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam
Tác giả phân tích bức tranh thực trạng cung ứng DVHCC tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022 qua các số liệu và bảng biểu thống kê:
[Thực trạng cung ứng DVHCC ở Việt Nam]
- Về phương thức cung ứng: Quá trình chuyển đổi từ giải quyết trực tiếp tại bộ phận Một cửa sang Một cửa điện tử và Cổng DVCQG đạt kết quả về số lượng dịch vụ công mức độ 3 và 4. Tuy nhiên, tỷ lệ hồ sơ phát sinh trực tuyến toàn trình còn thấp; người dân ở nhiều nơi vẫn phải xuất trình giấy tờ gốc để đối chiếu.
- Về các điều kiện đảm bảo:
- Thể chế, chính sách: Hệ thống văn bản (Nghị định 45/2020/NĐ-CP, Nghị định 42/2022/NĐ-CP) từng bước hoàn thiện nhưng thiếu các quy định chi tiết về giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử số hóa và cơ chế bắt buộc chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành.
- Hạ tầng và nền tảng số: Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NGSP) và cấp bộ/tỉnh (LGSP) đã được triển khai nhưng kết nối chưa đồng bộ. Tiến độ hoàn thiện các Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDLQG) cốt lõi còn chậm; chỉ số hạ tầng điện toán đám mây của Việt Nam năm 2020 còn ở nhóm trung bình so với 13 quốc gia châu Á.
- Chủ thể cung ứng: Tỷ lệ cán bộ, công chức (CBCC) được trang bị máy tính đạt mức cao, song tỷ lệ cán bộ chuyên trách CNTT còn thấp (chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng biên chế); trình độ CNTT, an toàn thông tin và kỹ năng vận hành trên môi trường số chưa đồng đều giữa các cấp.
- Người dùng DVHCC: Tỷ lệ dân số sử dụng Internet và điện thoại thông minh cao, nhưng kỹ năng số chuyên sâu và mức độ sẵn sàng sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn hạn chế; thói quen nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan hành chính vẫn chiếm ưu thế.
- Về hiệu quả và mức độ hài lòng: Theo báo cáo APCI (2018 và 2021), chi phí thời gian thực hiện TTHC ở một số lĩnh vực có xu hướng giảm nhưng chi phí tuân thủ chung vẫn cao. Khảo sát SIPAS và PAPI cho thấy mức độ hài lòng của người dân tiến triển chậm, nguyên nhân chính do TTHC chưa được cắt giảm thực chất và hạ tầng dịch vụ công trực tuyến còn gặp lỗi kỹ thuật.
Chương 4: Định hướng và giải pháp cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Chương 4 xác định quan điểm: Cung ứng DVHCC phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, chuyển đổi toàn diện hoạt động cung ứng sang phương thức trực tuyến toàn trình dựa trên dữ liệu. Luận án đề xuất 2 nhóm giải pháp lớn:
[Hệ thống giải pháp đề xuất]
-
Nhóm giải pháp về đổi mới phương thức cung ứng:
- Tái cấu trúc quy trình TTHC theo hướng tinh giản tối đa thành phần hồ sơ, loại bỏ các yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có trong các CSDLQG.
- Chuyển đổi mạnh mẽ sang cung ứng DVCTT toàn trình, đẩy mạnh tiếp nhận hồ sơ, thanh toán phí/lệ phí trực tuyến và trả kết quả bằng bản điện tử có giá trị pháp lý hoặc qua bưu chính công ích.
- Xây dựng mô hình cung ứng dịch vụ không phụ thuộc vào địa giới hành chính, cho phép người dùng nộp hồ sơ tại bất kỳ đâu thông qua môi trường số.
-
Nhóm giải pháp về các điều kiện đảm bảo:
- Hoàn thiện thể chế, chính sách: Ban hành và sửa đổi các văn bản quy định rõ trách nhiệm chia sẻ dữ liệu số giữa các cơ quan nhà nước; công nhận giá trị pháp lý đầy đủ của dữ liệu và kết quả giải quyết TTHC điện tử; quy định chi tiết về bảo vệ dữ liệu cá nhân và định danh điện tử.
- Phát triển hạ tầng, nền tảng số: Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện, đưa vào khai thác các CSDLQG trọng điểm (dân cư, đất đai, doanh nghiệp); hoàn thiện nền tảng NGSP và LGSP để kết nối thông suốt từ Trung ương đến địa phương; nâng cấp Mạng truyền số liệu chuyên dùng (TSLCD) và phát triển hạ tầng điện toán đám mây phục vụ cơ quan nhà nước.
- Nâng cao năng lực chủ thể cung ứng: Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số và an toàn thông tin cho CBCC tham gia tiếp nhận và giải quyết TTHC; xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách CNTT đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền số; chuyển đổi tư duy từ quản lý hành chính sang phục vụ trên môi trường số.
- Nâng cao điều kiện đáp ứng của người dùng: Đẩy mạnh phổ cập kỹ năng số cho người dân thông qua mạng lưới công nghệ số cộng đồng; tối ưu hóa giao diện các Cổng dịch vụ công theo hướng trực quan, dễ thao tác trên thiết bị di động; hỗ trợ các nhóm đối tượng yếu thế tiếp cận DVHCC trực tuyến.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tác động của CMCN 4.0 đến hoạt động cung ứng DVHCC, chỉ ra quy luật chuyển dịch từ phương thức cung ứng thủ công, trực tiếp tại cơ quan hành chính sang phương thức số hóa, trực tuyến toàn trình dựa trên dữ liệu.
- Xây dựng khung lý thuyết gồm 4 thành phần (phương thức cung ứng, chủ thể cung ứng, phương tiện/nền tảng số, người dùng dịch vụ) và xác lập 4 nhóm điều kiện đảm bảo cho cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0.
- Làm rõ đặc trưng của DVHCC trong môi trường số: không phân định theo địa giới hành chính, tương tác 24/7, tự động hóa xử lý dựa trên liên thông dữ liệu và lấy trải nghiệm người dùng làm thước đo chất lượng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phác họa bức tranh thực trạng cung ứng DVHCC tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2022 dựa trên nguồn số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát tại Cổng DVCQG, cổng dịch vụ công các bộ và địa phương.
- Chỉ rõ các điểm nghẽn thực tế: tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ toàn trình còn thấp, dữ liệu giữa các bộ ngành còn phân tán và rời rạc, năng lực số của công chức cấp cơ sở chưa đồng đều, chi phí tuân thủ TTHC vẫn còn cao.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và có tính khả thi đối với Việt Nam, từ tái cấu trúc quy trình, hoàn thiện thể chế chia sẻ dữ liệu, phát triển nền tảng kỹ thuật số đến nâng cao năng lực cho đội ngũ CBCC và hỗ trợ người dùng số.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu đối với các DVHCC có khả năng số hóa và cung ứng trên môi trường mạng trong mốc thời gian đến năm 2022; chưa bao quát các dịch vụ hành chính đặc thù đòi hỏi sự hiện diện trực tiếp bắt buộc hoặc các dịch vụ liên quan đến bí mật an ninh, quốc phòng. Nguồn dữ liệu thực nghiệm chủ yếu dựa trên số liệu thứ cấp, các báo cáo chỉ số công bố và quan sát tại các cổng dịch vụ công trực tuyến.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Đi sâu đánh giá tác động của các công nghệ cụ thể (trí tuệ nhân tạo tạo sinh, trợ lý ảo hành chính công, công nghệ chuỗi khối trong xác thực văn bằng chứng chỉ) vào từng nhóm TTHC chuyên ngành; nghiên cứu mô hình đo lường chi phí - hiệu quả kinh tế khi chuyển đổi toàn bộ DVHCC sang nền tảng số tại chính quyền cấp xã, huyện.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách: Nội dung Chương 3 và Chương 4 cung cấp căn cứ thực tiễn để các bộ, ngành, địa phương rà soát, tái cấu trúc quy trình TTHC, xây dựng kế hoạch chuyển đổi số và hoàn thiện các quy chế chia sẻ dữ liệu liên thông phục vụ Cổng Dịch vụ công.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Quản lý công, Hành chính công: Chương 1 và Chương 2 là tài liệu học thuật giá trị về tổng quan nghiên cứu DVC, DVHCC, hệ thống chỉ số đánh giá (PAPI, SIPAS, APCI) và khung lý thuyết về quản trị hành chính công trong bối cảnh CMCN 4.0.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Bổ sung tư liệu giảng dạy thực tiễn về cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số và quản trị dịch vụ công tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Dịch vụ hành chính công khác các dịch vụ công thông thường ở những điểm cốt lõi nào?
Theo phân tích trong luận án, DVHCC gắn liền với thẩm quyền hành chính - pháp lý của nhà nước, nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước và bảo đảm quyền, nghĩa vụ pháp lý của công dân (như cấp phép, chứng thực, đăng ký). DVHCC mang tính độc quyền cao, do nhà nước trực tiếp cung ứng (hoặc ủy quyền), không vì mục tiêu lợi nhuận, không tuân theo quy luật cung - cầu thị trường và người dùng chỉ phải nộp một khoản phí/lệ phí ấn định vào ngân sách.
2. Tác động căn bản nhất của CMCN 4.0 đối với phương thức cung ứng DVHCC là gì?
Tác động cốt lõi là làm thay đổi phương thức cung ứng từ giao dịch trực tiếp, dựa trên hồ sơ giấy tại bộ phận Một cửa sang phương thức trực tuyến toàn trình trên môi trường mạng. Quá trình xử lý dịch vụ chuyển từ thủ công sang tự động hóa và bán tự động dựa trên kết nối, liên thông dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, giúp người dân thực hiện TTHC mọi lúc, mọi nơi mà không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
3. Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 phụ thuộc vào những điều kiện đảm bảo nào?
Luận án xác định 4 nhóm điều kiện đảm bảo cơ bản: (1) Thể chế, chính sách (hành lang pháp lý về giao dịch điện tử, định danh, bảo vệ và chia sẻ dữ liệu số); (2) Hạ tầng và nền tảng số (mạng truyền số liệu, nền tảng NGSP/LGSP, điện toán đám mây và các CSDLQG); (3) Năng lực của chủ thể cung ứng (trình độ CNTT, kỹ năng số và văn hóa phục vụ của đội ngũ CBCC); (4) Khả năng đáp ứng của người dùng (kết nối Internet, thiết bị thông minh và kỹ năng thao tác trên môi trường số).
4. Luận án chỉ ra những điểm nghẽn thực tế lớn nhất trong cung ứng DVHCC ở Việt Nam hiện nay là gì?
Thực trạng cho thấy dù số lượng dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4 tăng nhanh nhưng tỷ lệ hồ sơ phát sinh trực tuyến toàn trình còn thấp; việc chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương còn phân tán; chi phí thời gian và chi phí tuân thủ TTHC ở nhiều lĩnh vực còn cao; và kỹ năng số của cán bộ cơ sở cũng như thói quen giao dịch số của người dân chưa đồng đều.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam" của tác giả Dương Quốc Chính đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự chuyển đổi mô hình cung ứng dịch vụ hành chính công dưới tác động của công nghệ số. Thông qua việc phân tích dữ liệu khảo sát và các bộ chỉ số đánh giá thực trạng giai đoạn 2011 - 2022, công trình chỉ rõ những thành tựu đạt được cũng như các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng kết nối dữ liệu và kỹ năng số. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính toàn diện và phù hợp với định hướng xây dựng chính phủ số, góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp tại Việt Nam.