CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VOI DAU TU TRUC TIEP NUOC NGOAI 1. Tổng quan các nghiên cứu về thu hút FDI trong bối cảnh CMCN 4.0 Vai trò của FDI và nguồn vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế của đất nước là rất to lớn. Do đó, có không ít nghiên cứu FDI đã đi sâu tập trung vào việc phân tích thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội như: Pegah Sadeghi và các cộng sự [13] đã chỉ ra rằng việc thu hút FDI của các quốc gia phụ thuộc vào tri thức và năng lực sản xuất của các quốc gia đó. Theo nghiên cứu, nhân tố mới dé thu hut FDI thé hiện qua chỉ số phức tạp kinh tế và mức độ phức tạp kinh tế.
Hai yếu tố này được sử dung dé do lường mức độ phát triển của các quốc gia. Kết quả chỉ ra rằng, sự phức tạp về kinh tế là một trong những yếu tố chính quyết định đến dòng vốn FDI với những tác động tích cực về mặt thong kê va kinh tế đối với dòng vốn FDI vào các nước chủ nhà. Đồng thời, qua nghiên cứu, tác giả đã lý giải được tại sao các quốc gia có vốn nhân lực ngang nhau lại có hiệu quả thu hút FDI. Tuy răng nghiên cứu đã chỉ ra tam quan trọng của van đề tri thức, năng lực sản xuất trong thu hút FDI, tập trung vào chỉ số kinh tế nhưng chưa khai thác các nội dung này cho cấp tỉnh.
Santos và Forte (2020) đã khám phá việc dòng vốn FDI có thê chảy từ các quốc gia có quy định nghiêm ngặt về môi trường sang các quốc gia có quy định ít nghiêm ngặt hơn dựa trên giả thuyết về thiên đường ô nhiễm. Trước xu hướng đó, một số quốc gia có thé thực hiện các quy định ít nghiêm ngặt hơn, nhằm thu hút FDI, dẫn đến cuộc chạy đua đến hiệu ứng đáy. Qua nghiên cứu, tác giả dự định cung cấp một góc nhìn, đánh giá về các mối quan hệ giữa FDI và các quy định về môi trường. Thông qua phân tích, tác giả đã đánh giá về mức độ liên quan của FDI và môi trường có tính gắn kết bền chặt và xác định các xu hướng mới [14].
Bên cạnh các nội dung về điểm mới trong dịch chuyên dòng vốn FDI, nghiên cứu chưa đưa ra mối tương quan về thu hút gắn với quản lý FDI trong bối cảnh ô nhiễm ngày càng có dấu hiệu gia tăng. Trong nghiên cứu, người viêt cũng chưa đê cập đên nội dung nay trong môi trường cấp tỉnh. Nguyễn Tan Vinh (2017) và Cao Tan Huy (2019) đã xây dựng được lý luận về liên kết vùng; đặc trưng, nội dung liên kết vùng trong thu hút và sử dụng FDI. Tác giả đã phân tích kinh nghiệm về liên kết vùng trong thu hút và sử dụng FDI của một số quốc gia như An Độ, Hàn Quốc, Indonesia; vùng kinh tế như vùng duyên hải miền Trung, vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Trên cơ sở đó, tác giả rút ra được bảy bài học kinh nghiệm cho vùng Đông Nam Bộ. Về mặt thực tiễn, tác giả đã chỉ ra được sự cần thiết của liên kết vùng trong thu hút và sử dụng FDI của vùng Đông Nam Bộ, phân tích tình hình thu hút và sử dụng vốn và thực trạng cơ chế phối hợp trong hoạt động thu hút và sử dụng FDI vùng Đông Nam Bộ[15], [16]. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xây dựng được mối tương quan giữa thu hút FDI và công tác quản lý tại vùng đồng bằng Đông Nam Bộ. Đồng thời chưa chỉ ra được liên kết vùng trong điều kiện phát triển của CMCN 4.0 thì FDI sẽ thay đổi ra sao.
Trong nghiên cứu về FDI, Trần Thị Tuyết Lan (2014) đã làm rõ và cụ thê hơn lý luận về FDI cho vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) Bắc Bộ. Tác giả đã phân tích được kinh nghiệm thu hút FDI của bốn quốc gia, đó là, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Từ đó rút ra bốn bài học kinh nghiệm cho VKTTĐ Bắc Bộ [17]. Tuy nhiên, nghiên cứu trình bày thêm các kinh nghiệm của một số vùng kinh tế khác, đặc biệt là vùng kinh tế Nam Bộ thì sẽ sát với nội dung nghiên cứu về VKTTĐ hơn.
Về mặt thực tiễn, luận án tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng FDI ở vùng KTTD Bắc Bộ từ năm 2003 đến hết năm 2013, chỉ rõ những van đề nổi cộm cần tập trung giải quyết. Tuy nhiên, nội dung đánh giá về FDI của tác giả sẽ sâu hơn nếu tác giả đánh giá hiệu quả sử dụng vốn FDI thông qua một số chỉ tiêu như VA, ICOR, năng suất các nhân tố tông hợp (TFP). Tuy nhiên, luận án không quá chú trọng nghiên cứu, đề xuất các giải pháp mang tinh kỹ thuật, mà chủ yếu là các giải pháp mang tính phương pháp luận, có ý nghĩa định hướng nhằm thu hút FDI vào vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thời gian tới. Đặc biệt, VKTTĐ Bắc Bộ là một không gian kinh tế, không phải vùng hành chính, nghĩa là không có bộ máy nhà nước cấp vùng dé quản lý, vì vậy, phát triển liên kết vùng về mọi mặt là một giải pháp hết sức cần thiết, tuy nhiên, tác giả chưa phân tích rõ giải pháp này.
Cũng nghiên cứ về FDI, Trần Nghĩa Hòa (2016) đã làm rõ lý luận thu hút FDI vào vùng kinh tế, những điểm khác giữa thu hút FDI vào vùng kinh tế so với một quốc gia, một tinh/thanh phố cũng như những lợi ích của việc thu hút FDI theo vùng. Luận án cũng đưa ra được năm tiêu chí đánh giá kết quả thu hút FDI theo vùng. Nghiên cứu cũng đã phân tích được hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI bao gồm: Nhóm yếu tô bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong vùng kinh tế. Đồng thời, luận án đã phân tích kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc va vùng Đông Nam Bộ và rút ra bảy bài học kinh nghiệm cho vùng bắc Trung Bộ trên cả hai mặt, bài học thành công và bài học that bại.
Tuy nhiên, nghiên cứu cần phải làm rõ hơn nữa từng yếu tố đó là gì và xu hướng ảnh hưởng đến quản lý FDI như thế nào. Phần kinh nghiệm thu hút, nghiên cứu chỉ đưa kinh nghiệm của một quốc gia và một vùng kinh tế nên sức thuyết phục chưa cao[ 18]. Về mặt thực tiễn, luận án đã phân tích cụ thể lợi thế và bất lợi của vùng Bắc Trung Bộ trong thu hút FDI, đánh giá thực trạng thu hút FDI trên cả thành tựu và hạn chế, tìm ra những nguyên nhân của các hạn chế trong thu hút FDI. Đề tài về thu hút FDI song nghiên cứu đã phân tích được những tác động của FDI dé củng cố thêm cơ sở cho việc thu hút FDI.
Trên cơ sở dự báo về xu hướng FDI, Nghiên cứu đã đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI sát với thực tế của vùng. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa làm rõ được thé nao là “tăng cường thu hút vốn FDI”, còn nhóm chỉ tiêu “lợi ích nhận được từ FDI” va “các tác động không mong muốn của FDI” Nghiên cứu trình bày chưa được rõ ràng, cụ thé. Việc tiếp cận các nhân tô ảnh hưởng đến thu hút FDI chưa sâu. Trong nội dung đánh giá thực trạng thu hút FDI, nghiên cứu chưa tách bạch được rõ ràng phần đánh giá thu hút FDI và đánh giá tác động, đóng góp của FDI làm cho việc đánh giá chưa được rõ ràng.
Phân giải pháp trình bày còn dàn trải và chưa bám sát với bảy bài học kinh nghiệm rút ra. Trong khi Nguyễn Thị Thanh Mai (2016), đã thành công khi làm rõ nội hàm của phát triển bền vững vùng kinh tế, xây dựng khung phân tích đánh giá đóng góp của FDI vào phát triển bền vững vùng kinh tế và phân tích kinh nghiệm và rút ra bài học kinh nghiệm về thu hút FDI với phát triển bền vững vùng, bé sung vào lý luận về FDI với phát trién bền vững vùng DBSH. Theo đó, nghiên cứu cho rang, phát triển bền vững là đồng thời phát triển cả ba trụ cột bao gồm phát triển kinh tế bền vững, phát triển xã hội bền vững và phát triển môi trường bền vững. Về thực tiễn, luận án đã làm rõ thực trạng thu hút và thực trạng đóng góp của FDI vào phát triển bền vững ở vùng ĐBSH trên cả ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường.
Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích các nhân tố ảnh hưởng, những hạn chế và nguyên nhân của của hạn chế. Đặc biệt, nghiên cứu đã sử dụng hai hàm Slope và Intercept để tính toán dự báo quy mô vốn FDI vào vùng đồng băng sông Hong đến hết năm 2020. Đây là “điểm sáng” trong Luận án. Từ đó, cùng với các định hướng, quan điểm về đóng góp của FDI vào vùng, nghiên cứu đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm tăng cường đóng góp của FDI trên cả ba khía cạnh[19].
Tuy nhiên, nghiên cứu còn chưa làm rõ được mối quan hệ giữa quản lý FDI với phát triển bền vững, khung phân tích còn chưa mang tính phổ quát dé tham khảo cho các khu vực khác trên thế giới. Tổng quan nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với FDI trong bối cảnh CMCN 4.0 Thông qua một số công trình nghiên cứu về khái niệm, nội dung quản lý EDI, có thê thấy được một số vấn đề: Với việc phân tích FDI và sự chuyển đổi về năng lực sản xuất, Long và các cộng sự [20] đã đánh giá hiệu suất quản lý FDI dựa trên ứng dụng mô hình phân tích mảng bao đữ liệu (metafrontier), sự khám phá sự không đồng nhất về thời gian, năng suất từ các quan điểm tĩnh và động. Thông qua các mô hình phân tích hội tụ về năng suất, tác giả đã chỉ ra rằng, các tỉnh phía đông của TQ tỷ lệ khoảng cách công nghệ cao nhất, điều này cho thay mức độ không đồng nhất về công nghệ SX ở TQ. Theo đó, quản ly FDI đã có tác động tiêu cực đến năng suất, đặc biệt là ở các khu vực trung, tây và đông bắc của TQ.
Điều này cho thấy FDI có tác động mạnh mẽ ở TQ. Năng suất cho thấy xu hướng hội tụ FDI dựa trên nên tảng về công nghệ có những biến chuyền lớn từ năm 2004 đến năm 2012. Qua nghiên cứu, tác giả nhận định răng, các doanh nghiệp địa phương của TQ phải tăng cường đổi mới quản ly công nghệ tại nội địa nhằm tăng cường khả năng lan tỏa hiệu ứng FDI dé giảm khoảng cách về công nghệ SX nội địa.