Công ước Berne và Việc Thực Hiện Trong Lĩnh Vực Xuất Bản Ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh công ước berne và việc thực hiện trong lĩnh vực xuất bản ở việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong

Chuyên ngành

Quan Hệ Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

172
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Bảng các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU

0.1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: Lịch sử hình thành và phát triển của Công ước Berne

1.1. Lịch sử hình thành Công ước Berne

1.1.1. Nguồn gốc hình thành đạo luật bản quyền

1.1.2. Từ Đạo luật Anne đến Công ước Berne

1.1.3. Công ước Berne và các điều ước quốc tế liên quan đến quyền tác giả

1.1.4. Nội dung Công ước Berne - Công ước quốc tế về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học

1.1.5. Khái niệm về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả

1.1.6. Nội dung chủ yếu của Công ước Berne. Sự cần thiết của Việt Nam gia nhập Công ước Berne

2. CHƯƠNG 2: Ngành Xuất bản Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa về bảo hộ quyền tác giả

2.1. Vài nét khái quát về ngành Xuất bản Việt Nam

2.2. Quá trình hình thành và phát triển của ngành Xuất bản Việt Nam

2.3. Quan hệ hợp tác quốc tế của ngành Xuất bản Việt Nam hiện nay

2.4. Cơ sở pháp lý và thực tiễn quyền tác giả ở Việt Nam trong tiến trình gia nhập Công ước Berne

2.4.1. Những quy định pháp lý về quyền tác giả ở Việt Nam

2.4.2. Quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam trước khi gia nhập Công ước Berne

2.4.3. Thiết lập quan hệ hợp tác quốc tế về quyền tác giả giữa Việt Nam và các nước

3. CHƯƠNG 3: Tình hình thực hiện Công ước Berne trong lĩnh vực Xuất bản Việt Nam

3.1. Những kết quả ban đầu của việc thực hiện Công ước Berne trong lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam

3.2. Những thách thức đặt ra của việc thực hiện Công ước Berne trong lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam thời gian qua

3.3. Một số biện pháp nhằm khắc phục những thách thức trong việc thực hiện Công ước Berne của ngành Xuất bản Việt Nam. Triển vọng của việc thực hiện Công ước Berne trong lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam thời gian tới

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về Công ước Berne và xuất bản tại Việt Nam

Công ước Berne là một trong những hiệp định quốc tế quan trọng nhất về bảo vệ quyền tác giả. Được thành lập vào năm 1886, Công ước này đã tạo ra một khung pháp lý cho việc bảo vệ quyền lợi của các tác giả trên toàn cầu. Tại Việt Nam, việc thực hiện Công ước Berne đã trở thành một phần quan trọng trong ngành xuất bản, giúp bảo vệ quyền lợi của các tác giả và nâng cao chất lượng xuất bản.

1.1. Lịch sử hình thành Công ước Berne

Công ước Berne ra đời từ nhu cầu bảo vệ quyền tác giả trong bối cảnh toàn cầu hóa. Sự phát triển của ngành xuất bản đã dẫn đến việc cần thiết phải có một khung pháp lý chung để bảo vệ quyền lợi của tác giả.

1.2. Ý nghĩa của Công ước Berne đối với xuất bản

Công ước Berne không chỉ bảo vệ quyền lợi của tác giả mà còn thúc đẩy sự phát triển của ngành xuất bản tại Việt Nam, tạo điều kiện cho việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xuất bản.

II. Những thách thức trong việc thực hiện Công ước Berne tại Việt Nam

Việc thực hiện Công ước Berne tại Việt Nam gặp nhiều thách thức, bao gồm sự thiếu hiểu biết về quyền tác giả và các quy định pháp lý chưa hoàn thiện. Điều này ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi của các tác giả và chất lượng xuất bản.

2.1. Thiếu hiểu biết về quyền tác giả

Nhiều tác giả và nhà xuất bản vẫn chưa nắm rõ các quy định của Công ước Berne, dẫn đến việc vi phạm quyền tác giả và xâm phạm bản quyền.

2.2. Các quy định pháp lý chưa hoàn thiện

Hệ thống pháp luật về quyền tác giả tại Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền lợi của tác giả theo tiêu chuẩn quốc tế.

III. Phương pháp thực hiện Công ước Berne trong ngành xuất bản

Để thực hiện hiệu quả Công ước Berne, Việt Nam cần áp dụng các phương pháp như nâng cao nhận thức về quyền tác giả, cải thiện hệ thống pháp lý và tăng cường hợp tác quốc tế.

3.1. Nâng cao nhận thức về quyền tác giả

Cần tổ chức các chương trình đào tạo và hội thảo để nâng cao nhận thức của tác giả và nhà xuất bản về quyền tác giả và Công ước Berne.

3.2. Cải thiện hệ thống pháp lý

Cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp lý liên quan đến quyền tác giả để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và Công ước Berne.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Công ước Berne trong xuất bản tại Việt Nam

Việc thực hiện Công ước Berne đã mang lại nhiều lợi ích cho ngành xuất bản tại Việt Nam, từ việc bảo vệ quyền lợi của tác giả đến việc nâng cao chất lượng xuất bản.

4.1. Bảo vệ quyền lợi của tác giả

Công ước Berne đã giúp bảo vệ quyền lợi của tác giả, ngăn chặn việc sao chép trái phép và xâm phạm bản quyền.

4.2. Nâng cao chất lượng xuất bản

Việc thực hiện Công ước Berne đã thúc đẩy các nhà xuất bản nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của độc giả.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của Công ước Berne tại Việt Nam

Công ước Berne đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền tác giả tại Việt Nam. Tương lai, cần tiếp tục cải thiện và hoàn thiện các quy định pháp lý để đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi của tác giả trong bối cảnh toàn cầu hóa.

5.1. Tầm quan trọng của việc gia nhập Công ước Berne

Việc gia nhập Công ước Berne là bước đi cần thiết để Việt Nam hội nhập vào cộng đồng quốc tế và bảo vệ quyền lợi của tác giả.

5.2. Triển vọng phát triển ngành xuất bản

Ngành xuất bản Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển trong tương lai nếu tiếp tục thực hiện hiệu quả Công ước Berne và cải thiện hệ thống pháp lý.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh công ước berne và việc thực hiện trong lĩnh vực xuất bản ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ước BernE 1. Lịch sử hình thành Công ước Berne 1. Nguồn gốc hình thành đạo luật bản quyền Trong nền văn hóa cổ xưa, từ khi loài người nghĩ ra chữ viết thì các giá trị văn hóa bắt đầu được ghi chép lại. Nhưng vật liệu để viết rất thô sơ, chưa có giấy nên họ thường viết chữ lên lá cây, vỏ cây, da và xương thú, mai rùa, đồng, đá hoặc mảnh tre ghép lại.

Công việc viết chữ khó khăn và cũng chưa được coi trọng nên không được cộng đồng dân cư đón nhận. Do đó, các sản phẩm trí tuệ thời bấy giờ không thuộc về một cá nhân hay một nhóm người nào tạo ra chúng mà thuộc về cộng đồng và xã hội, là sản phẩm trí tuệ chung của tập thể chứ không của riêng một ai. Phần lớn người dân đều không biết chữ nên họ cũng không quan tâm nhiều đến việc ai là tác giả của những sản phẩm trí tuệ đó. Trải qua thời gian, xã hội ngày càng phát triển thì quan điểm trên cũng dần dần được thay đổi, nhất là ở các xã hội phương Tây.

Trong thời kỳ Trung cổ, ít có tác phẩm trí tuệ nào được ghi danh tác giả. Khi đó, nhà thờ đảm nhiệm cả việc sao chép và sản xuất các sản phẩm trí tuệ của phương Tây dưới dạng các bản chép tay. Dần dần, công việc sản xuất, bán và bán lại các bản chép tay ở các nước châu Âu được tổ chức tốt hơn và chuyên môn hóa cao hơn. Điều đó đã giúp cho số lượng người dân tiếp cận với sách vở nhiều hơn, làm tăng tỷ lệ người biết chữ và mở đường phát triển cho những công nghệ in ấn bằng máy thay vì phải chép tay.

Lịch sử cho rằng Trung Quốc là quốc gia đầu tiên phát minh ra cách in ấn bằng những tấm gỗ. Quyển sách in cổ nhất thế giới là ở Trung Quốc. Việc khắc chữ lên gỗ để in là một bước tiến quan trọng trong việc lưu truyền chữ viết trong nhân dân, nhưng phạm vi phổ biến tác phẩm vẫn bị hạn chế, vì việc kỹ thuật in này cho số lượng nhân bản không nhiều. Động lực cho sự phát triển kỹ thuật in là nhu cầu in Kinh thánh của đạo Thiên chúa phục vụ đông đảo tín đồ và truyền giáo thời cuối Trung cổ.

Cho đến khi con người phát minh ra máy in thì cho thấy số lượng sách rõ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ràng có thể được nhân bản nhiều và dễ hơn so với chép tay trước đó. Đây là một máy in chữ rời bằng gỗ, hoạt động bằng tay. Phát minh này thuộc về Johannes Gutenberg, tại thành phố Mainz, bên bờ sông Ranh thuộc nước Đức. Cuốn sách đầu tiên in chữ rời bằng gỗ này chính là cuốn Kinh thánh (Bibles) vào khoảng năm 1490.

Cùng với công nghệ mới sẵn có, các nhà in trên toàn châu Âu, tức là các nhà xuất bản thời đó, nhanh chóng nhận ra rằng xuất bản sách có thể đem lại thu nhập đáng kể cho họ và ngành sách hiện đại đã được thiết lập. Tuy nhiên, việc xuất hiện máy in trong tình hình đó đã làm tăng rủi ro và tăng các chi phí trả trước của nhà xuất bản. In ấn thì đắt đỏ, số lượng ấn bản lớn của mỗi đầu sách in bằng máy in chỉ bán được với giá tương đối thấp trong một thời gian dài, thậm chí có một vài trường hợp không bán được. Cạnh tranh giữa các nhà in sách trở nên gay gắt.

Không lâu sau khi máy in xuất hiện ở châu Âu, tất cả các nhà lãnh đạo thế tục lẫn tôn giáo bắt đầu điều chỉnh ngành in ấn. Họ nhận thức rất rõ ảnh hưởng to lớn của các ấn bản được phân phối rộng rãi đến quan niệm của công chúng. Họ dành cho các nhà in mà họ ưng ý các ưu tiên đặc quyền xuất bản các tác phẩm cụ thể. Cũng bằng cách đó, họ có thể ngăn cản việc công bố các tác phẩm mà họ cho là có nội dung không phù hợp cũng như có thể kiểm duyệt các ấn bản.

Chẳng hạn, ở Anh năm 1557, công ty Stationers nhận được giấy phép của Hoàng gia cho họ hưởng sự độc quyền in ấn và xuất bản nội địa. Công ty Stationers đã giữ quyền đó trong suốt 150 năm. Vào thời điểm này, tại Anh và những nơi khác ở châu Âu, tác giả có quyền được thanh toán cho tác phẩm của mình, dù đây mới chỉ là quyền tập quán chứ chưa phải là quyền pháp lý. Tuy nhiên, nếu họ muốn tác phẩm của mình được xuất bản thì họ phải bán nó cho một nhà in được chính phủ ủy quyền.

Do đó, tác giả có quyền được xuất bản tác phẩm mà nội dung được giữ nguyên hoặc chỉ được sửa đổi khi được sự đồng ý của tác giả. Quyền trên của tác giả được công nhận một cách không chính thức, một phần vì các nhà xuất bản đương đại tin rằng nếu họ xuất bản 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên bản như ý định ban đầu của tác giả thì thu nhập kinh tế trên tác phẩm đó sẽ tối đa. Vì vậy, sau khi bán quyền sao chép một trong những tác phẩm của mình, tác giả vẫn giữ lại các phương tiện kiểm soát nó. Việc đó như một điều luật quy định cho phép tác giả được bảo vệ các quyền lợi liên quan đến việc phổ biến hay sử dụng tác phẩm của mình và ngăn ngừa sự sao chép lậu hay sử dụng trái phép.

Đây chính là cơ sở cho sự ra đời, hình thành đạo luật bản quyền sau này. Từ Đạo luật Anne đến Công ước Berne Vào thế kỷ XVII, quyền lực nghị viện Anh đã vượt lên trên quyền lực quân chủ chuyên chế, việc kiểm duyệt sách báo của chính phủ cũng nhẹ đi phần nào và triết lý chủ nghĩa cá nhân nổi lên. Bảo hộ pháp lý bản quyền của tác giả bắt đầu được nhiều người coi là có giá trị theo luật tự nhiên hơn. Cùng lúc đó, sự kiểm soát chặt chẽ thị trường sách trong nước Anh của công ty Stationers bắt đầu suy yếu.

Nhằm mang đến cho tác giả có độc quyền trên tác phẩm của mình và độc quyền đó được bảo vệ trong một thời gian nhất định, đạo luật Anne (Statude of Anne) - đạo luật bản quyền đầu tiên trên thế giới đã ra đời năm 1710. Do đó, nước Anh được coi là nước đầu tiên trên thế giới đặt ra luật lệ để kiểm soát việc in ấn và phát hành sách. Theo Đạo luật Anne, tác giả và bất kỳ người nào khác, không chỉ là nhà in như trước đây, đều có thể sở hữu bản quyền. Thời hạn của bản quyền được giới hạn là 20 năm đối với những bản quyền đã có hiệu lực khi đạo luật này được ban hành và 40 năm đối với tất cả các sách mới.

Đồng thời, có điều khoản quy định thời hạn 40 năm này có thể được gia hạn thêm 40 năm nữa nếu tác giả của đầu sách có liên quan vẫn còn sống khi thời hạn kỳ trước kết thúc. Để được bảo hộ bản quyền theo luật này, giống như trước đây được bảo hộ theo bản quyền của công ty Stationers, chủ thể phải tuân thủ một số thủ tục sau: tác giả phải đăng ký sách dưới tên của chính mình và cấp miễn phí một số ấn bản sách cho một vài trường đại học và thư viện Anh (hay còn gọi là sách lưu chiểu). 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi xem xét Đạo luật Anne, Ithiel de Sola Pool đã viết trong tác phẩm “Công nghệ tự do về bản quyền” một cách cô đọng như sau: “Quan niệm mới về sở hữu trí tuệ thể hiện trong bản quyền có nguồn gốc từ công nghệ in ấn. Máy in là một cái phễu để kiểm tra và kiểm soát các ấn bản.

Trong quá trình chuyển từ ngòi bút của tác giả sang tay độc giả, máy in là vị trí hợp logic để áp dụng sự kiểm soát, dù nó là kiểm duyệt các lời lẽ báng bổ thần thánh, mầm mống nổi loạn hay bảo hộ sở hữu trí tuệ của tác giả” [66, tr. Đối với các hình thức nhân bản không có một vị trí dễ kiểm soát như máy in thì vấn đề bản quyền không được áp dụng. Sau khi Đạo luật Anne được ban hành ở nước Anh, các nước phương Tây khác lần lượt ban hành các đạo luật về bản quyền, nhất là vào những năm cuối của thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX như Đan Mạch (1741), Mỹ (1790), Pháp (1791),. hoặc một số nước châu Mỹ Latinh sau khi dành được độc lập như Chi lê (1834), Peru (1849), Argentina (1869) và Mexico (1871).

Các đạo luật quốc gia này chỉ bảo vệ bản quyền trong giới hạn lãnh thổ của mỗi nước. Nói chung, Đạo luật Anne có sự kết hợp cả truyền thống luật La Mã, như ở Pháp và các nước châu Âu lục địa khác, lẫn truyền thống pháp luật Anglo- Saxon (luật Anh-Mỹ). Những luật bản quyền này cùng với truyền thống pháp luật của nước sở tại đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các đạo luật bản quyền ở các nước thuộc địa của các đế quốc. Dù theo truyền thống nào thì các đạo luật này đều cho tác giả quyền bán các quyền kinh tế chứa đựng bên trong bản thảo của họ cho nhà xuất bản.

Điểm khác biệt đáng chú ý trong việc bảo hộ tinh thần (tiếng Pháp gọi là droits d’auteurs) trong mỗi tác phẩm của họ là quyền được làm những việc như kiểm soát việc công bố hoặc giới thiệu tác phẩm tới công chúng, kiểm soát tính chân thực của tác phẩm, đòi quyền ghi tên tác giả lên tác phẩm hoặc để cho tác phẩm vô danh, hoặc không cho phép lưu hành các tác phẩm của mình. Tại những nước theo truyền thống luật La Mã, những nhà triết học cá nhân chủ nghĩa ủng hộ quan điểm cho rằng các quyền tinh thần của tác giả có cơ sở trong luật tự nhiên và đa số họ đều coi những luật này là vĩnh viễn và không thể chuyển 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhượng được. Chúng cũng được bảo hộ công khai theo luật bản quyền. Các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ cũng bảo hộ quyền tinh thần của tác giả, nhưng nói chung không bao quát bằng các nước theo luật La Mã, nó được quy định bên ngoài luật bản quyền.

Từ Đạo luật Anne trở đi, các đạo luật bản quyền Anglo- Saxon đặc biệt có tính thương mại. Vì bản quyền chủ yếu là vấn đề quốc nội của các nước châu Âu nên hầu hết sách chỉ lưu thông trong phạm vi quốc gia mà nó được viết ra và xuất bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ