CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1. Tổng quan về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 1. Chi phí sản xuất 1. Khái niệm Chi phí là khoản hao phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được kết quả nào đó.
Hao phí này bao gồm hao phí lao động vật hóa (như nguyên vật liệu, năng lượng, hao mòn TSCĐ) và hao phí lao động sống (như tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp). Phân loại chi phí sản xuất. Chi phí có nhiều ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh và mục đích sử dụng. Thông tin chi phí được ghi nhận và phân loại theo cách phù hợp với mục đích sử dụng này có thể không phù hợp với mục đích sử dụng khác.
Do đó, việc am hiểu tường tận các khái niệm chi phí và phương pháp phân loại chi phí đóng vai trò hết sức quan trọng, điều này có thể cung cấp các thông tin phù hợp cho các quyết định của doanh nghiệp. Theo Trịnh Văn Sơn – Hồ Phan Minh Đức (2016), chi phí được phân loại theo các tiêu thức sau: Phân loại theo mối quan hệ với mức hoạt động của tổ chức - Chi phí biến đổi: là chi phí thay đổi trên tổng số theo sự thay đổi của mức hoạt động của tổ chức (ví dụ như sản lượng, số giờ lao động, số giờ máy…). Các chi phí NVL, chi phí NCTT, chi phí năng lượng phục vụ sản xuất, chi phí bao bì đóng gói, hoa hồng bán hàng…là những chi phí biến đổi. SVTH: Hà Thị Thanh Lan 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà - Chi phí cố định: là chi phí không thay đổi trên tổng số bất chấp sự thay đổi của mức hoạt động.
Các chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương cho cán bộ quản lý, chi phí quảng cáo khuyến mãi, chi phí bảo hiểm… là những chi phí cố định. Phân loại theo phương pháp phân phối chi phí cho một đối tượng chịu chi phí - Chi phí trực tiếp: là loại chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí và có thể tính trực tiếp cho đối tượng đó một cách hiệu quả, ít tốn kém. - Chi phí gián tiếp: là loại chi phí liên quan đến đối tượng chịu chi phí, nhưng không thể tính trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí đó một cách hiệu quả. Phân loại dựa trên khả năng kiểm soát chi phí - Chi phí kiểm soát được: là chi phí mà nhà quản lý có thể kiểm soát hoặc quyết định được.
- Chi phí không kiểm soát được: là chi phí mà nhà quản lý không có khả năng kiểm soát hoặc gây ảnh hưởng lên nó. Phân loại theo lĩnh vực chức năng của tổ chức - Chi phí sản xuất: là những chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm chi phí NVL trực tiếp, chi phí NCTT, chi phí SXC. - Chi phí ngoài sản xuất: là những chi phí ngoài khâu sản xuất, bao gồm: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Phân loại theo thời điểm ghi nhận chi phí - Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm hay hàng hóa được mua vào.
Chi phí sản phẩm được ghi nhận là chi phí tại thời điểm sản phẩm/ hàng hóa được tiêu thụ mà không được tính ở thời kỳ mà nó phát sinh. - Chi phí thời kỳ: là tất cả các chi phí không phải là chi phi sản phẩm. Chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ nào thì tính là chi phí trong kỳ đó, chi phí này làm giảm lợi tức trong kỳ chúng phát sinh. Phân loại chi phí sản xuất là công việc quan trọng cần phải thực hiện để phục vụ cho việc tổ chức, theo dõi và tập hợp chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm, đồng thời để dễ dàng kiểm soát các loại chi phí phát sinh.
Theo Huỳnh Lợi (2009), chi phí sản xuất được phân loại theo các tiêu thức sau: SVTH: Hà Thị Thanh Lan 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế ban đầu Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo các yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí. Bao gồm các yếu tố sau: - Chi phí nguyên liệu, vật liệu bao gồm giá mua, chi phí mua nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Yếu tố này bao gồm những thành phần sau: chi phí NVL chính, chi phí NVL phụ, chi phí nhiên liệu, phụ tùng thay thế và chi phí vật liệu khác sử dụng vào sản xuất.
- Chi phí nhân công bao gồm: các khoản tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp theo lương phải trả cho người lao động và các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chi phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp của người lao động. - Chi phí công cụ dụng cụ: yếu tố này bao gồm giá mua và chi phí mua của các công cụ được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng chi phí công cụ dụng cụ là tiền đề để nhà quản lý hoạch định luân chuyển qua kho, định mức dự trữ, nhu cầu thu mua công cụ dụng cụ hợp lý. - Chi phi khấu hao TSCĐ: yếu tố này bao gồm khâu hao của tất cả các TSCĐ, tài sản dài hạn dùng vào hoạt động SXKD.
- Chi phí dịch vụ thuê ngoài bao gồm: chi phí mua ngoài phục vụ cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp như tiền điện, tiền nước, điện thoại, chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa… - Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí SXKD bằng tiền phát sinh trong quá trình SXKD của doanh nghiệp. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm các khoản mục chi phí sau: SVTH: Hà Thị Thanh Lan 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà - Chí phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vât liệu sử dụng trực tiếp trong từng hoạt động sản xuất sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ… - Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất, tiền thưởng và tiền phụ cấp khác. - Chi phí sản xuất chung bao gồm tất cả các chi phí sản xuất ngoài 2 khoản mục chi phí trên.
Như vậy chi phí sản xuất chung thường bao gồm: chi phí lao động gián tiếp, chi phí NVL dùng trong máy móc thiết bị, chi phí CCDC dùng trong sản xuất, chi phí khấu hao máy móc thiết bị, tài sản cố định khác dùng trong hoạt động sản xuất, chi phí thuê ngoài,… - Chi phí bán hàng còn được gọi là chi phí lưu thông, là những chi phí đảm bảo cho việc thực hiện chính sách, chiến lược bán hàng của doanh nghiệp. Khoản mục chi phí bán hàng bao gồm: chi phí lương và các khoản trích theo lương, chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ dùng trong hoạt động bán hàng,… - Chi phí quản lý bao gồm tất cả chi phí liên quan đến công việc hành chính, quản trị ở phạm vi toàn doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn bao gồm tất cả những chi phí mà không thể ghi nhận vào các khoản mục nói trên. - Chi phí khác: ngoài những khoản chi phí liên quan đến hoạt động SXKD, trong chi phí của doanh nghiệp còn tồn tại chi phí khác.
Về cơ bản chi phí khác thường bao gồm chi phí hoạt động tài chính, chi phí hoạt động bất thường. Chi phí này thường chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong một doanh nghiệp nhỏ, chi phí này có thể bằng không. Giá thành sản phẩm 1.
Khái niệm “Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định. Giá thành đơn vị sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một đơn vị thành phẩm”. (Huỳnh Lợi - Nguyễn Khắc Tâm, 2002) SVTH: Hà Thị Thanh Lan 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà Hay nói cách khác, giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí NVL, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung tính cho từng công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp đến giai đoạn hoàn thành, nghiệm thu bàn giao được chấp nhận thanh toán. Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế mà doanh nghiệp sử dụng nhằm tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
Phân loại giá thành sản phẩm Có nhiều loại giá thành khác nhau, tuỳ theo yêu cầu quản lý cũng như các tiêu thức phân loại khác nhau mà giá thành được chia thành các loại tương ứng. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành: Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành, giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại: - Giá thành dự toán: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất và sản lượng dự toán.Việc tính toán xác định giá thành dự toán được tiến hành trước khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và do bộ phận kế hoạch thực hiện. Đối với hoạt động xây lắp thì giá thành dự toán là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình, hạng mục công trình. Do đặc điểm của hoạt động sản xuất xây lắp là thời gian sản xuất thi công dài và mang tính chất riêng lẻ nên đối với từng công trình, hạng mục công trình đều phải lập dự toán trước khi thi công.
- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở định mức các chi phí sản xuất hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm. Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất, xây lắp.