CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG VÀO CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI THUỘC NHÓM MSM CÓ HIV/AIDS 1. Khái niệm nghiên cứu Khái niệm công tác xã hội với người thuộc nhóm có HIV/AIDS Khái niệm Công tác xã hội Ngành Công tác xã hội hiện còn khá mới mẻ tại Việt Nam, về cơ bản Việt Nam thừa hưởng những thành quả về các hoạt động công tác xã hội trên thế giới và vận dụng một cách linh hoạt vào thực tế tại Việt Nam. Nếu tìm hiểu về các khái niệm liên quan đến công tác xã hội, tôi thấy có khá nhiều tổ chức cá nhân đã định nghĩa khái niệm này.
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5). Theo ông Zastrow, “CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống” (Zastrow, 1999:. Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000 cho rằng “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội.
CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.” Tại Việt Nam theo từ điển Bách Khoa Việt Nam năm 1995 định nghĩa rằng “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng được nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội.” Một số chuyên gia về công tác xã hội Việt Nam cũng cho rằng “CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP. Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà 22 Thang Long University Library nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình.” (Nguyễn Thị Oanh, 2004) Theo Phạm vi của Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 23/ 2010/ QĐ –TTg ngày 25/3/2010 thì “ Nghề công tác xã hội là những hoạt động mang tính chuyên nghiệp, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình , nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề , giúp các đối tượng tự vươn lên trong cuộc sống và hoà nhập cộng đồng”. Việc đưa ra các khái niệm khác nhau như trên để có cái nhìn tổng quan về CTXH, tuy nhiên trong khuôn khổ của khóa luận này, tôi sẽ sử dụng định nghĩa CTXH của Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, 7/2000 “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội.
CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.” Khái niệm công tác xã hội cá nhân CTXH cá nhân là phương pháp can thiệp đầu tiên của ngành được xây dựng một cách khoa học. Phương pháp này bắt đầu từ cuối những năm 1800 với các tổ chức Từ thiện (Charity Organizations) Mỹ. Theo Grace Mathew, 1992: Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một – một. Nó được nhân viên xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện chức năng xã hội.
Bách khoa toàn thư (Encyclopedia) về CTXH của Philippin: “Công tác xã hội cá nhân là một hình thức cá biệt hóa việc giúp đỡ con người đối phó với những vấn đề cá nhân thường liên quan đến sự sa sút hay gây gổ trong việc thực hiện các chức năng xã hội một cách đầy đủ”. 23 Theo Bà Nguyễn Thị Oanh: “CTXH cá nhân là một phương pháp can thiệp quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm. Mục đích của CTXH cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình”. Một khi chúng ta thừa nhận tác động đến cá nhân được xem như là một phương pháp làm việc thì Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp để giúp một cá nhân giải quyết các vấn đề khó khăn của họ mà tự họ không có khả năng tìm ra lối thoát.
Cân lưu ý là những nguyên nhân khó khăn này không chỉ xuất phát từ một khiếm khuyết của cá nhân mà từ các điều kiện xã hội của môi trường trong đó thân chủ sinh sống. Mục đích của phương pháp này là thiết lập mối quan hệ tốt với thân chủ, giúp họ hiểu rõ về chính họ, xác định lại mối tương quan giữa họ với những người xung quanh, giúp họ tăng khả năng vận dụng các nguồn lực xã hội (tài nguyên) và của bản thân để thay đổi. Nói một cách khác, Công tác xã hội với cá nhân nhằm phục hồi, củng cố và phát triển sự thực thi bình thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình trong bối cả xã hội mà vấn đề của họ đang diễn ra và bị tác động. Tóm lại, trong phương pháp này, đối tượng tác động là bản thân người được giúp đỡ còn công cụ tác động là mối quan hệ giữa người thực hành CTXH (nhân viên xã hội) và đối tượng (thân chủ).
Khái niệm về nhân viên công tác xã hội Cuốn sách Công tác xã hội đại cương của ThS. Nguyễn Thị Oanh cho rằng: nhân viên CTXH là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về công tác xã hội để sử dụng những kiến thức và kỹ năng của mình để: - Giúp cho xã hội thấy rõ trách nhiệm của mình đối với sự phát triển chung của xã hội. - Giúp thân chủ: + Cung cấp các dịch vụ xã hội + Tăng cường khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề của mình + Tiếp cận các nguồn lực + Thiết lập những mối quan hệ thuân lợi giữa họ và môi trường của họ. 24 Thang Long University Library Vai trò của nhân viên CTXH - Giáo dục: Nhân viên CTXH tìm cách chuyển thông tin đến thân chủ một cách tốt nhất, giúp họ thay đổi nhận thức và hành vi.
- Chiếc cầu nối: Nhân viên CTXH hiểu rõ nhu cầu của thân chủ và các nguồn tài nguyên, vì vậy nhân viên CTXH phải tích cực nối kết đối tượng với nguồn tài nguyên. - Tạo điều kiện: Nhân viên CTXH tạo điều kiện cho thân chủ tăng dần khả năng bàn bạc, lựa chọn, lấy quyết định và hành động để giải quyết vấn đề theo sự hiểu biết và quyết định của riêng họ. - Người trung gian: Nhân viên CTXH giúp một hay nhiều thân chủ (thân chủ và những người có liên hệ chặt chẽ) hiểu quan điểm của nhau và cùng thấy quan điểm chung hay đi đến được sự thỏa thuận/ hiểu quan điểm chung. - Biện hộ: Đây là một trong những vai trò quan trọng của nhân viên CTXH.
Nhân viên CTXH trong tư cách này là người đại diện cho tiếng nói của thân chủ, để đạt đến các cơ quan thẩm quyền, tổ chức xã hội những vấn đề bức xúc của thân chủ. Nhân viên CTXH thực hiện vai trò này với quyền mà thân chủ trao. - Tư vấn: Cung cấp các kiến thức và thông tin cho thân chủ để đạt được mục tiêu và mục đích đã hoạch địch. - Nghiên cứu: Thu thập các thông tin, phân tích tình huống và vấn đề, từ đó chuyển những phân tích trên thành chương trình hành động.
- Lập kế hoạch: Lập các kế hoạch hành động dựa trên các thông tin đã được đánh giá, để cùng với thân chủ có các bước hành động phù hợp trong tiến trình giải quyết vấn đề của thân chủ. - Điều phối: Đảm bảo cho thân chủ có quyền đối với các dịch vụ cần thiết và các dịch vụ này được thực hiện có hiệu quả. Vai trò này thể hiện khi thân chủ vì thiếu hiểu biêt,quá nhỏ, thiếu động lực để tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ. Ngoài ra, nhân viên CTXH còn đóng vai trò điều phối các dịch vụ hỗ trợ cho thân chủ được hợp lý, hợp tác trong trường hợp một thân chủ cần nhiều dịch vụ hỗ trợ.
25 Tóm lại, những vai trò trên của nhân viên CTXH đều cần phải sử dụng đến kỹ năng giao tiếp, nhân viên CTXH nếu được trang bị những kiến thức đầy đủ về các kỹ năng giao tiếp cần có của ngành CTXH thì chắc chắn sẽ có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện nghiệp vụ.