mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn có 3 chƣơng sau đây: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em làng chài Chƣơng 2: Thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình Chƣơng 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội đối với trẻ làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM LÀNG CHÀI 1. Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý và nhu cầu của trẻ em làng chài 1. Trẻ em làng chài 1.
Khái niệm trẻ em Trẻ em là đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học khác nhau. Tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận khác nhau, chúng ta có những định nghĩa về trẻ em cũng khác nhau. Xét về góc độ phát triển, trẻ em là “những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể ch t và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” theo Nguyễn Hiệp Thƣơng [29]. Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tƣ cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhƣng cũng là đối tƣợng cần đƣợc gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục.
Theo Điều 1, Trong phạm vi Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC): “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [36]. Theo Luật số 28/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em 2016 quy định “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [20]. Bên cạnh đó, ở Việt Nam, thuật ngữ về trẻ em đƣợc quy định trong rất nhiều các luật khác nhƣ Luật phổ cập giáo dục trung học, Bộ luật hình sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật dân sự, quốc tịch, Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, vẫn chƣa có sự thống nhất về độ tuổi trẻ em trong các văn bản luật nêu trên.
Trong phạm vi của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm trẻ em theo Luật trẻ em năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” 1. Khái niệm trẻ em làng chài 11 Trẻ em làng chài là ngƣời dƣới 16 tuổi đƣợc sinh ra trong các gia đình có bố mẹ làm nghề chài lƣới đánh bắt cá trên các con sông và ngoài biển khơi. Khi còn nhỏ tuổi các em đa phần phụ thuộc vào hoạt động kiếm sống của cha mẹ, suốt ngày lênh đênh trên thuyền nay đây, mai đó chài lƣới, đánh bắt cá trên các con sông. Khi sống trên thuyền nhiều em phải tự lập khá sớm và ít đƣợc sự chăm sóc của cha mẹ nhƣ những trẻ em bình thƣờng khác.
Đặc điểm t m lý và nhu cầu của trẻ em làng chài Những khó khăn trong đời sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em làng chài nói riêng rất dễ dẫn đến những nguy hại về tâm lý và sự hình thành nhân cách của trẻ. Trẻ sẽ bị chi phối lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng cả về nhận thức và hành vi, điều đó đều nằm trong phạm vi tác động của môi trƣờng xung quanh, sự tƣơng tác từ xã hội mà trẻ tiếp xúc hằng ngày. Đối với trẻ em làng chài do đặc điểm từ môi trƣờng sống, sự nhận thức của trẻ nên cũng có một số đặc điểm về tâm lý tƣơng đồng với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhƣ: Trẻ em làng chài từ nhỏ đã sớm theo cha mẹ bƣơn chải trên sông, nay đây mai đó, thƣờng thiếu hụt về thể chất; tinh thần, điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí. dẫn đến trẻ em làng chài thƣờng gặp khó khăn cản trở trong học tập, sinh hoạt, giao tiếp xã hội, các kỹ năng ứng xử, tự bảo vệ bảo thân.
Do đó nhóm trẻ em này cần đƣợc xã hội và gia đình yêu thƣơng, chăm sóc nhiều hơn, các em cần đƣợc hỗ trợ các mặt về xã hội, văn hóa, giải trí nhƣ tuyên truyền về nhận thức, chăm sóc sức khỏe, tƣ vấn tham vấn tâm lý, khám chữa bệnh, giáo dục kỹ năng sống, định hƣớng nghề và dạy nghề để các em có thể hòa nhập và ổn định cuộc sống. Do trẻ em làng chài không đƣợc sống và lớn lên trong điều kiện bình thƣờng nhƣ các trẻ em khác mà chủ yếu lúc còn nhỏ sống và tiếp xúc với môi trƣờng sông nƣớc nên khi trở về cuộc sống trên bờ thƣờng nhút nhát ít tiếp xúc với ngƣời lạ, hoài nghi, thiếu tin tƣởng, mặc cảm tự ti với bản thân và hoàn cảnh gia đình. Một số tâm trạng thƣờng gặp khác nhƣ: Trẻ lo lắng sợ sệt, có thể ngồi yên một chỗ suốt ngày, không ham thích tham gia các hoạt động vui chơi nào đó, trẻ buồn lo lắng thƣờng khó tập trung tƣ tƣởng làm ảnh hƣởng đến qua trình học tập cũng nhƣ giao tiếp xã hội. Do bố mẹ đi làm xa không có 12 nhiều thời gian ở nhà chăm sóc con, có những trẻ từ 10 tuổi đã phải sống tự lập ở nhà tự đi học và lo mọi sinh hoạt cho bản thân nên trẻ cũng có nhiều khả năng bị quấy rối tình dục từ những thành phấn xấu xung quang.
Có nhiều trƣờng hợp trẻ em khi ở nhà với ông bà, cô chú hoặc tự lập một mình, lúc ốm đau cũng không đƣợc chăm sóc một cách đầy đủ mà chỉ đƣợc chữa trị bằng các bài thuốc dân gian. Do sự thiếu quan tâm, chăm sóc từ gia đình nên trẻ em làng chài thƣờng bị ức chế, bi quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy. Những lúc nhƣ thế các em cần sự động viên chia sẻ, sự đồng cảm từ cộng đồng, nhà trƣờng, NVCTXH và cần đƣợc tuyên truyền nâng cao nhận thức, đƣợc chăm sóc, hỗ trợ về giáo dục, học các kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng sống, hỗ trợ y tế, hỗ trợ tâm lý và để vƣơn lên trong cuộc sống. Ngoài ra trẻ cũng cần đƣợc có những không gian, điều kiện để đƣợc vui chơi giải trí lành mạnh giúp nâng cao thể chất, tinh thần và tăng khả năng giao tiếp đối với môi trƣờng xung quanh.
Công tác xã hội đối với trẻ em làng chài - Khái niệm công tác xã hội Có nhiều khái niệm vể CTXH, nhƣng trong luận văn này Học viên sử dụng khái niệm Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cƣờng chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trƣờng xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (ASXH) (Bùi Thị Xu n Mai, 2010). - Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em Công tác xã hội với trẻ em là các hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp trẻ em, gia đình trẻ thông qua việc đáp ứng nhu cầu và tăng cƣờng chức năng xã hội của trẻ và gia đình đồng thời thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ, cải thiện môi trƣờng xã hội giúp trẻ phát triển tốt nhất về thể chất, tinh thần và mọi mặt xã hội. - Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em làng chài Từ các khái niệm trên, tác giả luận văn đƣa ra khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em làng chài nhƣ sau: Công tác xã hội đối với trẻ em làng chài là các hoạt động 13 chuyên nghiệp nhằm trợ giúp trẻ em làng chài, gia đình trẻ thông qua việc đáp ứng nhu cầu và tăng cƣờng chức năng xã hội của trẻ và gia đình đồng thời thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ, cải thiện môi trƣờng xã hội giúp trẻ em làng chài phát triển tốt nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. Nguyên tắc hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em Nguyên tắc thứ nh t, luôn lấy trẻ làm trọng tâm: Khi làm việc với trẻ thì nhân viên CTXH cần đặt niềm tin vào trẻ, chấp nhận tất cả các quan điểm, hành vi, suy nghĩ của trẻ mà không đƣợc phán xét, lên án hay chỉ trích những lỗi lầm của trẻ.
Chính điều này sẽ tạo đƣợc lòng tin từ trẻ đối với nhân viên CTXH, qua đó thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ từ đứa trẻ. Nhân viên CTXH cần phải hiểu rõ nhu cầu thực sự của trẻ em là gì, cần quan tâm đến trẻ em trong mọi giai đoạn và từng bƣớc can thiệp. Không phải thân chủ là một đứa trẻ thì Nhân viên CTXH không lắng nghe những gì trẻ nói, tin vào những gì trẻ làm mà cứ cố gắng hiểu trẻ thông qua gia đình hoặc những ngƣời nuôi trẻ để đƣa ra các hoạt động trợ giúp không phù hợp và đúng nhu cầu của trẻ. Nguyên tắc thứ hai, cố gắng hiểu thế giới của trẻ: Thế giới của trẻ rất đơn giản và đầy màu sắc, còn với ngƣời lớn nó rất phức tạp và khó hiểu.
Đấy cũng là lý do tại sao khi làm việc với trẻ nhân viên công tác xã hội cần phải lắng nghe từ trẻ, cảm nhận bằng trái tim thì mới có thể hiểu đƣợc ƣớc mơ và cảm xúc từ chính đứa trẻ ấy. Nguyên tắc thứ ba, Kêu gọi sự tham gia tích cực của trẻ và gia đình trẻ: Trẻ đƣợc đƣa ra ý kiến, đƣợc quyền quyết định và lựa chọn các hoạt động, tôn trọng quyền tự quyết của trẻ, không áp đặt mà chỉ đóng vai trò ngƣời xúc tác, định hƣớng, khích lệ trẻ có niềm tin để tự giải quyết các vấn đề. Khi xây dựng kế hoạch can thiệp và các hoạt động trợ giúp trẻ cần có sự tham gia của chính bản thân các em. Trong hoạt động trợ giúp trẻ giải quyết các vấn đề gia đình hoặc ngƣời nhận nuôi trẻ đóng một vai trò rất quan trọng.
Chính vì vậy mà nhân viên công tác xã hội cần phải làm việc để hiểu rõ về trẻ và có một nguồn thông tin chính xác hơn về trẻ cũng nhƣ nguyên nhân các vấn đề mà trẻ đang gặp phải.