Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ GIA ĐÌNH NGĂN NGỪA HÀNH VI LỆCH CHUẨN Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 1. Lý luận về hành vi lệch chuẩn và trẻ vị thành niên có hành vi lệch chuẩn. Một số khái niệm liên quan * Khái niệm vị thành niên Quá trình phát triển của một đứa trẻ từ khi sinh ra tới khi trưởng thành trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau với các đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng. Tuổi vị thành niên là giai đoạn cuối cùng trong quá trình phát triển của trẻ.
Đó là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn. Việc xác định chính xác tuổi bắt đầu và kết thúc của tuổi vị thành niên là không đơn giản. Mỗi tác giả có những quan niệm khác nhau.Spranger cho rằng tuổi vị thành niên là từ 14 tới 17 tuổi; Đ.Bromlei lại coi tuổi vị thành niên là từ 11 đến 15 tuổi; nhà tâm lý học Xô viết Đ.Enconhin cho rằng lứa tuổi vị thành niên là từ 11 cho đến hết tuổi 15 – Vũ Dũng, Tâm lý học tuổi vị thành niên, Tạp chí Tâm lý học, số 4/1998 trang 17-21. [30] Dưới góc độ sinh học: Vị thành niên là khái niệm chỉ giai đoạn phát dục mạnh mẽ của cá thể, trong giai đoạn này các cơ năng sinh lý của cá thể có những biến đổi mạnh mẽ về cấu trúc cơ thể như chiều cao, cân nặng, hệ cơ xương.[21] Dưới góc độ tâm lý học: Vị thành niên là một giai đoạn quá độ sang giai đoạn trưởng thành của mỗi cá thể, là giai đoạn phát triển và định hình về năng lực nhận thức, tình cảm, cảm xúc chưa ổn định.
“Giai đoạn Vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp giữa giai đoạn trẻ thơ sang giai đoạn trưởng 14 n thành; tâm lý học coi vị thành niên là một giai đoạn kết nối, chuyển tiếp và đòi hỏi mỗi cá nhân phải có những thay đổi mới để thích nghi” [21] Dưới góc độ luật học: Theo quy định của Liên hiệp Quốc: Vị thành niên là những trẻ em tuổi từ 10 – 18 và hoàn toàn trùng lặp với khái niệm trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, còn người chưa thành niên (Juvenile) có lứa tuổi từ 15 đến 18; thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi. Theo đó, pháp luật quốc tế cũng có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của đối tượng người trẻ tuổi này [27] Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2009, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tuy nhiên quy định của hệ thống pháp luật của Việt Nam về khái niệm vị thành niên cũng không thống nhất. Ví dụ: Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân,.
đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo qui định của pháp luật”, Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 18), quy định: “Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 (Điều 1), quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”; Luật Thanh niên 2005 (Điều 1), quy định: “Thanh niên trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”; Bộ luật lao động 2012 (Điều 3), quy định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên,. Như vậy, theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, đối với vị thành niên có các độ tuổi: “đủ 14 tuổi”; “đủ 15 tuổi”; “dưới 16 tuổi”; “đủ 16 tuổi”; “dưới 18 tuổi”. Theo các nhà tâm lý học Việt Nam thì tuổi vị thành niên gồm 2 giai đoạn là: giai đoạn học sinh THCS (hay thiếu niên) và giai đoạn học sinh PTTH (hay giai đoạn tuổi thanh niên) 15 n Theo chúng tôi, khái niệm trẻ em vị thành niên là khái niệm chung để chỉ những trẻ em có độ tuổi từ 11 tới 15 tuổi, là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em lên người lớn và đang trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách, … * Khái niệm hành vi lệch chuẩn Hành vi lệch chuẩn là những hành vi của một cá nhân, của một nhóm người hay một cộng đồng người tạo ra không phù hợp với chuẩn mực xã hội hiện hành, bị cộng đồng, xã hội lên án. Các loại hành vi lệch chuẩn và nguyên nhân sai lệch hành vi 1.
Các loại hành vi lệch chuẩn Hành vi lệch chuẩn cá nhân: là hành vi xảy ra khi một cá nhân hành động lệch lạc một cách đơn độc ra khỏi các chuẩn mực xã hội đã được thiết lập [24]. Hành vi lệch chuẩn nhóm: là hành vi xảy ra khi một nhóm các thành viên hành động trái ngược với các chuẩn mực xã hội đã được qui ước. Các hành vi lệch chuẩn nhóm thường thuộc loại tiểu văn hóa của nhóm [24]. Hành vi lệch chuẩn xã hội: là bất kỳ một hành vi hay hành động của cá nhân hay nhóm xã hội không phù hợp với sự mong đợi chung của các thành viên của xã hôi, đi chệch khỏi xã hội; sai lệch xã hội là hành vi, hành động đi chệch khỏi các quy định của pháp luật, đi chệch khỏi các giá trị, chuẩn mực, quy tắc xã hội; lệch chuẩn xã hội là hành vi đi chệch khỏi chuẩn mực của nhóm, là sự đi chệch khỏi các chuẩn mực văn hóa đã được thừa nhận, là hành vi của một cá nhân hay nhóm vi phạm các quy tắc, quy định của các chuẩn mực xã hội, là những tình huống, sự kiện cụ thể của cuộc sống đóng vai trò là những nhân tố phá vỡ sự tác động của các chuẩn mực xã hội; sai lệch xã hội là sự vi phạm có nhận thức các quy phạm văn hóa [23].
16 n Lệch chuẩn thuộc tiểu văn hóa xảy ra khi một cá nhân hay một nhóm không tuân thủ theo mong đợi chung của xã hội, nhưng hành xử theo mong đợi của nhóm. Vấn đề lệch chuẩn của một nhóm xảy ra khi mong đợi của nhóm khác hoặc đi ngược với mong đợi của xã hội. Mặt khác, lệch chuẩn có thể thay đổi không còn là sự lệch lạc thậm chí có thể thành chuẩn mực khi thời gian, nơi chốn và văn hóa thay đổi. Do đó, hành vi lệch chuẩn có tính tương đối.
Căn cứ vào nội dung, tính chất của các chuẩn mực xã hội thì hành vi lệch chuẩn được chia thành hành vi lệch chuẩn tích cực và hành vi lệch chuẩn tiêu cực đó là: Hành vi lệch chuẩn tích cực là những hành vi (có thể là cố ý hoặc vô ý) vi phạm phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực xã hội đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với thực tế xã hội hoặc không còn được nhà nước và xã hội thừa nhận. [24] Trong xã hội học pháp luật có hai khả năng xảy ra: Một là, các quy phạm pháp luật do chế độ cũ ban hành không còn phù hợp trong điều kiện xã hội mới do tính chất hà khắc, lạc hậu, lỗi thời của nó. Hành vi vi phạm, phá bỏ các quy tắc pháp luật đó mang ý nghĩa tích cực về mặt xã hội nên đó là hành vi sai lệch tích cực; Hai là, các quy phạm pháp luật do nhà nước hiện nay ban hành, đã hết hoặc vẫn còn hiệu lực thực tế, nhưng chúng không còn phù hợp với yêu cầu thực tế cuộc sống, đòi hỏi nhà nước phải sửa đổi hoặc bãi bỏ. Việc một cá nhân, nhóm xã hội chống lại các quy phạm pháp luật hiện hành nhưng không còn phù hợp đó là sự “gióng lên hồi chuông” để nhà nước sửa đổi chúng, nghĩa là nó mang ý nghĩa tích cực.
Hành vi lệch chuẩn tiêu cực có thể hiểu là những hành vi (có thể cố ý hoặc vô ý) vi phạm, phá vỡ hiệu lực, sự tác động của các chuẩn mực xã hội hiện hành, có nội dung, tính chất phù hợp, tiến bộ, đang phổ biến, thịnh hành và được nhà nước, các cộng đồng người thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Nguyên nhân hành vi lệch chuẩn của trẻ vị thành niên Trong phần này chúng tôi đi sâu phân tích một số nguyên nhân dẫn đến hành vi lệch chuẩn của trẻ vị thành niên từ góc độ gia đình Trẻ em từ khi sinh ra đã phải chịu rất nhiều ảnh hưởng ở những môi trường xã hội khác nhau như: môi trường gia đình, nhà trường, xã hội, bạn bè. Tuy nhiên, môi trường trẻ chịu ảnh hưởng sớm nhất, nhiều nhất và trực tiếp nhất là giáo dục gia đình. Bởi vì: Sự tác động của giáo dục gia đình diễn ra thường xuyên, liên tục và kéo dài theo suốt quá trình phát triển của trẻ.
Tác động của giáo dục gia đình diễn ra theo cơ chế bắt chước, đồng nhất từ phía trẻ nhỏ theo những tấm gương của người lớn trong gia đình mà trẻ có thể học tập. Sự tác động của giáo dục gia đình dựa trên tình cảm. Có 3 cách giáo dục gia đình ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển nhân cách của trẻ, đó là: - Cha mẹ quá nương chiều con cái. Là mẫu cha mẹ rất quan tâm dến con cái nhưng lại sao nhãng việc quản lý con và thường rất ít đặt ra các yêu cầu đối với con cái.
Nhiều cha mẹ cố ý nuôi nấng con theo cách này, bởi họ tin rằng với sự quan tâm trìu mến, kết hợp với việc ít kiềm chế, bó buộc con theo ý mình thì sẽ nuôi dạy con trở thành người tự tin và sáng tạo. Bởi hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, không ít ông bố, bà mẹ mải lo làm ăn. mà ít có thời gian chăm sóc con cái, phó mặc mọi việc dạy dỗ và giáo dục con cho ông bà và nhà trường. Họ nghĩ đơn giản rằng, việc cung cấp cho con mọi nhu cầu về vật chất là điều kiện tốt nhất cho con mình phát triển nhưng đâu đơn giản như vậy.
Các bậc cha mẹ tưởng rằng cung cấp đầy đủ tiền bạc cho con cái là chúng phát triển bình thường như bao trẻ khác. Họ không hiểu rằng ở giai đoạn này nhu cầu chia sẻ của trẻ rất lớn. Do đó, sự thương yêu chăm sóc, 18 n động viên của cha mẹ, đặc biệt là mẹ đối với trẻ nữ và cha đối với trẻ nam có ý nghĩa lớn lao.