CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CONG TÁC THAM ĐỊNH TÍN DUNG DOI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát công tác thâm định tín dung của NHTM 1. Hoạt động tín dụng của NHTM 1. Khái niệm Từ hang ngàn năm trước, hoạt động vay mượn nhau dựa trên sự tín nhiệm đã nhen nhóm trong cuộc sống của loài người.
Việc vay mượn này đã đặt nền móng cho sự ra đời của hoạt động tin dụng từ trước cả khi các ngân hang thương mại xuất hiện. Bản chất của tín dụng có thé được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau: e “Tín dụng là sự trao đôi các tài sản hiện tại để nhận các tài sản cùng loại trong tương lai”, (Lê Thị Thu Thủy, 2009) « “Tin dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả và có lãi suất”, (Cao Thị Ý Nhi & Dang Anh Tuấn, 2016). « “Tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ sử dụng vốn của nhau giữa các pháp nhân và thê nhân trong nền kinh tế”, (Võ Đình Toàn, 2017) Như vậy, định nghĩa của tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng về bản chất đều phản ánh mối quan hệ giữa một bên là người cho vay và một bên là người đi vay, ràng buộc nhau trên cơ sở pháp luật và cơ chế tín dụng. Ban đầu, người cho vay chuyên giao giá trị hay hiện vật cho người đi vay, sau một khoảng thời gian nhất định, người đi vay phải chuyên giao ngược lại cho người cho vay.
Tuy nhiên, giá trị hoàn trả phải lớn hơn lượng chuyên giao ban đầu, tức là người đi vay phải trả thêm phần lợi tức cho người cho vay. Vậy tin dụng ngay từ khi ra đời đã là biểu hiện của mối quan hệ giữa bên đi vay va bên cho vay trên nguyên tac hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Ngày nay, NHTM đã và đang khang định được sự thiết yếu của mình khi đóng vai trò là trung gian tài chính, nhân tố điều tiết trong nền kinh tế hiện đại. Tín dụng ngân hàng là một trong những nghiệp vụ chính bên cạnh hoạt động nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ thanh toán của các NHTM.
Theo Luật các TCTD (2010), “cấp tín dụng là việc thỏa thuận dé tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nói theo một cách dễ hiểu, hoạt động tín dụng của các NHTM là việc các ngân hàng thực hiện chuyên quyền sử dụng một số vốn tiền tệ sang cho khách hàng, đổi lại khách hàng phải cam kết hoàn trả cho ngân hàng cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định. Tín dụng ngân hàng giúp chuyền dịch vốn từ các cá nhân, tổ chức tạm thời thừa vốn sang các cá nhân, tô chức thiếu vốn. Bang cách này, NHTM giúp khách hàng mở rộng SXKD hoặc hỗ trợ cho những dự án lớn, góp phần làm tăng sản phẩm xã hội, mở rộng lượng vốn đầu tư, thúc đây phát triển kinh tế xã hội.
Tín dụng cũng là hoạt động cơ bản và đặc trưng của ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn trong doanh số sử dụng vốn và đồng thời cũng là hoạt động mang lại hầu hết lợi nhuận cho NHTM. Mang lại lợi ích cho các chủ thé trong mối quan hệ tín dụng nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, có thê nói hoạt động tín dụng đã chiếm một ví trí không thể thiếu trong toàn bộ hệ thống NHTM. Đặc điển của hoạt động tín dụng ngân hàng Tín dụng nói chung được đặc trưng bởi 3 yếu tổ chính, đó là: lòng tin (sự tin tưởng của người cho vay vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của người đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng (thời gian người đi vay sử dụng tiền vay) và sự hứa hẹn hoàn trả. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng mà trong đó NHTM được ấn định là bên cho vay.
Điều này khiến cho tín dụng ngân hàng vừa mang những nét đặc trưng giống với tín dụng nói chung, vừa có những ưu điểm rõ rệt: Thứ nhát, sự tin tưởng là yếu tố then chốt giúp hình thành, duy trì và phát triển của bất kỳ mối quan hệ tín dụng nào. Tín dụng ngân hàng bản chất vẫn là hoạt động vay mượn dựa trên lòng tin. Ở đây, nếu người cho vay (NHTM) không tin tưởng vào việc người đi vay có thể sử dụng vốn có hiệu quả và có khả năng trả được nợ, quan hệ tin dụng không thé xảy ra. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của nén kinh tế thị trường thì yếu tố uy tín càng được đặt lên hàng dau.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng gián tiếp. Ngân hàng “đi vay” từ các tổ chức cá nhân thừa vốn và cho vay đối với các tổ chức, cá nhân thiếu vốn. Đây chính là điểm khác biệt lớn giữa Ngân hàng so với các TCTD khác, bởi NHTM không hoàn toàn sử dụng vốn chủ sở hữu mà hầu như cho vay bằng tiền huy động được từ nền kinh tế. Đứng giữa làm trung gian tài chính, ngân hàng thương mai đã thực hiện dau tư vào các tô chức, cá nhân có nhu câu về von.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng mang tính linh hoạt và đáp ứng được mọi đối tượng trong nên kinh tế quốc dân. NHTM có thé huy động nguồn tiền nhàn rỗi từ nền kinh tế bằng hình thức đa dang, khối lượng lớn, đồng thời có khả năng điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau, do đó TCTD này có thé đáp ứng nhu cầu vốn dưới nhiều loại thời hạn, hạn mức và mục đích sử dụng của khách hàng. Tuy nhiên, đi cùng với những ưu điểm, tín dụng ngân hàng cũng đối mặt với mức độ rủi ro cao vì nó không phải chỉ chịu tác động đến từ phía người cho vay và người đi vay như tín dụng thông thường mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động của bản thân ngân hàng và môi trường kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là khách hàng doanh nghiệp. Các phương thức cấp tín dụng Tùy vào cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu, tín dụng ngân hàng có thể phân loại thành nhiều nhóm khác nhau.
Tuy nhiên các tiêu thức thường dùng nhất là căn cứ vào cách thức xác định số tiền vay; cách thức cấp tín dụng; thời hạn của khoản tín dụng và TSBĐ. Theo thời hạn tín dụng (thời hạn sử dụng vốn vay): ¢ Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn dưới 1 năm, thường dé đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, nhu cầu thành toán hoặc bé sung vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. e Tín dụng trung hạn: Có thời han từ 1-5 năm, được cấp dé phục vụ khách hàng mua săm TSCĐ, mở rộng sản xuất, đôi mới kỹ thuật,. « Tín dụng dai hạn: Có thời hạn trên 5 năm, áp dụng khi khách hang cần vôn đề đầu tư xây dựng cơ bản, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Theo cách thức xác định số tién vay: e Tin dụng từng lần (Tín dụng theo món): hình thức tính dụng được ưa chuộng đối với những khách hàng không có nhu cầu bổ sung vốn thường xuyên. Khách hàng cần làm đơn đề nghị cấp tín dụng và trình phương án sử dụng vốn cho ngân hàng vào mỗi lần vay. Theo đó, mỗi lần vay sẽ tương ứng với một hồ sơ riêng biệt. « Tin dụng theo hạn mức: Ngân hang cấp cho khách hàng một mức dư nợ tối đa, được duy trì trong một khoản thời gian nhất định (thường là 1 năm), thỏa thuận dựa trên nhu cầu vốn và kế hoạch SXKD của khách hàng.
Khi được ngân hang cấp tín dụng theo hợp đồng hạn mức, khách hàng có thé vay, trả nhiều lần trong kỳ. Theo cách thức cấp tín dụng: « Cho vay: NHTM cấp tiền cho khách hàng với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian quy định. Cho vay bao gồm: Thấu chi: Khách hàng được phép chi vượt trên số dư trong tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Y Cho vay qua thẻ tín dụng: Ngân hàng cấp một han mức nhất định cho khách hang (chủ thẻ) trong khoảng 1 đến vài tháng dé sử dụng trong chi tiêu.
Đến hạn, chủ thẻ phải trả lại tiền cho ngân hàng, sau đó hạn mức trên thẻ được lặp lại. Y Cho vay luân chuyên: Khi một doanh nghiệp thiếu vốn, ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp tiền nhập hàng và thu nợ khi hàng được bán ra. Cho vay trả góp: Trong thời hạn tín dụng, khách hàng trả gốc cho ngân hàng làm nhiều đợt. Hình thức này được sử dụng đối với các khoản vay có thời hạn dài (vay trung - dài hạn), để tài trợ cho TSCĐ hoặc hàng hóa lâu bên.
Nó « Chiết khấu: Ngân hàng mua lại giấy đòi nợ hoặc giấy nhận nợ của khách hàng, tiễn hành ứng trước tiền cho khách hàng. Số tiền ứng cho khách hàng là giá trị của GTCG đó trừ đi phần phí dịch vụ chiết khấu của ngân hàng. e Cho thuê: Ngân hàng cho khách hàng thuê các tài sản trung và dài han có kèm theo điều khoản là bán lại tài sản cho khách hàng khi hợp đồng kết thúc, với giá cả được thỏa thuận trước. « Bao lãnh: NHTM cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bằng uy tín, đưới hình thức thư bảo lãnh) nếu khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba như cam kết.
Bảo lãnh được chia thành: e Bao thanh toán: Ngân hàng mua lại các khoản phải thu của khách hàng và thực hiện truy đòi bên mua hàng thay cho khách hàng, nhờ đó bên bán hàng nhận được trước tiền hang cho hoạt động SXKD tiếp theo. Theo tính chất bảo đảm của khoản vay: ¢ Tín dụng có bảo đảm: Ngân hang cấp tín dụng khách hàng khi có TSBD với giá tri tương đương. « Tin dụng không có bảo đảm: Hình thức này còn được gọi là tín chấp, ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng mà không có bất kỳ TS nào làm đảm bảo. Nguyên tắc của hoạt động tín dụng ngân hàng Thứ nhất, cả góc lẫn lãi cua khoản tin dụng phải được hoàn trả đúng hạn.
Hầu hết vốn kinh doanh NHTM có được là do huy động từ lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội, do đó hoàn trả tiền vay và lãi vay đúng thời hạn là nguyên tắc cần được đặt lên hàng đầu.