CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động tín dụng KHDN vừa và nhỏ của NHTM 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo cuốn Tín dụng ngân hàng (2023) có nêu “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền, hàng hoá hoặc uy tín) giữa ngân hàng và bên được cấp tín dụng (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác). Trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên được cấp tín dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên được cấp tín dụng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Cũng theo cuốn Tín dụng ngân hàng (2023) nêu rõ ba đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng gồm: Thứ nhất, quan hệ tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở hoàn trả: Bên được cấp tín dụng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời gian quy định trong hợp đồng cấp tín dụng. Thứ hai, quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời: Ngân hàng chuyền giao tài sản cho bên được cấp tín dụng trong thời gian quy định trên hợp đồng cấp tín dụng. Sau thời gian quy định, bên được cấp tín dụng sẽ hoàn trả lại cho ngân hàng. Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa ngân hàng và người được cấp tín dụng: Ngân hàng có quy trình cấp tín dụng, kiểm tra kiểm soát sau khi cấp tín dụng.
Tuy nhiên giữa ngân hàng và người được cấp tín dụng phải có sự tin tưởng, bảo đảm rằng bên được cấp tín dụng sẵn sàng hoàn trả phần tài sản đã nhận sau thời gian quy định trên hợp đồng. Hoạt động tín dụng KHDN vừa và nhỏ của NHTM 1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp là một thực thể hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế, tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm doanh nghiệp. Theo Dlarue- Acitlat: “Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất và là một đơn vị phân phối, doanh nghiệp là một hệ thống mở, có mục tiêu và quản lý theo hướng tạo ra lợi nhuận hùng mạnh, vĩnh cửu…” (Kinh tế nông nghiệp- NXB Khoa học kỹ thuật 1994).
Còn theo 6 Luật Doanh nghiệp hiện hành của Việt Nam: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh”. DNVVN là một trong số các doanh nghiệp được phân loại theo tiêu chí về quy mô kinh doanh và sản xuất, nó đang tồn tại và ngày càng phát triển nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường. DNVVN cũng mang những đặc điểm chung giống như các loại hình doanh nghiệp khác nhưng cũng có những đặc điểm riêng. Do đó, tùy vào điều kiện của từng nước khác nhau sẽ đưa ra các khái niệm khác nhau về DNVVN.
Tuy nhiên, nó thường được yêu cầu dựa vào vốn tự có, số lượng lao động làm việc trong doanh nghiệp, giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp. Ví dụ như theo quan điểm của Mỹ mức lợi nhuận hàng năm dưới 150.000 USD được coi là DNVVN, theo quan điểm của Thái Lan doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có từ 50 đến 200 lao động, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có dưới 50 lao động. Ở Việt Nam theo Nghị định 04/2017/QH14 của Chính Phủ ban hành ngày 12/06/2017 thì DNVVN được hiểu: Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí về nguồn vốn và doanh thu. Điều kiện là tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. 1: Quy định về tổng nguồn vốn và số lao động cho doanh nghiệp theo khu vực ngành nghề tại Việt Nam Quy mô DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Khu vực Tổng Số Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn vốn lao động nguồn vốn động nguồn vốn Từ trên 20 Từ 10 Từ trên 200 Nông, lâm 10 người 3 tỷ trở 20 tỷ đồng tỷ đồng đến người đến người đến và thủy sản trở xuống xuống trở xuống 100 tỷ 200 người 300 người đồng Từ trên 20 Công Từ 10 Từ trên 200 10 người 3 tỷ trở 20 tỷ đồng tỷ đồng đến nghiệp và người đến người đến trở xuống xuống trở xuống 100 tỷ xây dựng 200 người 300 người đồng Thương Từ 10 Từ trên 10 Từ trên 50 10 người 3 tỷ trở 20 tỷ đồng mại và người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống xuống trở xuống dịch vụ 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Điều 6 NĐ 39/2018/NĐ-CP) Như vậy, DNVVN là những tổ chức kinh doanh, có đầy đủ tư cách pháp nhân, hoạt động dựa trên mục đích tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Những tổ chức này có quy mô hoạt động vừa và nhỏ, được phân loại dựa trên các tiêu thức đánh giá về nguồn vốn bỏ ra ban đầu, về cơ sở máy móc thiết bị, kỹ thuật, về nguồn lực lao động, doanh thu đạt được qua từng thời kỳ… 1. Hoạt động cấp tín dụng KHDN vừa và nhỏ của NHTM Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể được hiểu là việc thỏa thuận giữa ngân hàng và DNVVN, theo đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho DNVVN sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Ở đây đối tượng khách hàng của ngân hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có doanh thu dưới 8 20 tỷ, mới thành lập hoặc thành lập được một thời gian ngắn, có nhu cầu tín dụng để mở rộng sản xuất, vay vốn xây dựng, phát triển doanh nghiệp,… 1. Đặc điểm cấp tín dụng KHDNVVN của NHTM Nhìn chung hoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với DNVVN cũng mang đặc điểm chung giống nhau đối với doanh nghiệp, ví dụ như về quy trình tín dụng, cách thức, và phương thức cho vay. Bên cạnh đó cũng mang các nét riêng biệt như sau: Về quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ Các DNVVN ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Song vấn đề nói lên hiện nay đó là giải quyết vấn đề vốn cho DNVVN.
Quy mô vốn vay của DNVVN nhỏ hơn so với DN lớn, nhưng tốc độ tăng trưởng dư nợ lại cao hơn. Trên thực tế các NHTM đang cạnh tranh mạnh mẽ để mở rộng cho vay đối với loại hình DNVVN, đặc biệt là trong nhu cầu vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinh doanh. Các DNVVN đang là đối tượng khách hàng tiềm năng của các NHTM. Doanh số dư nợ và doanh số cho vay DNVVN của ngành ngân hàng liên tục tăng qua các năm.
Về khả năng sinh lời Ngân hàng có thể thu được nguồn lợi lớn từ việc cho vay đối với DNVVN. Đây chính là thị trường tốt để các ngân hàng hoạt động. Lãi suất đối với cho vay DNVVN thường cao hơn so với cho vay đối với doanh nghiệp lớn, nếu tính trên tổng các khoản vay DNVVN, các Ngân hàng còn thu thêm được nhiều khoản khác đi kèm nhờ cung cấp thêm các dịch vụ: Bảo lãnh, thanh toán, chuyển tiền, L/C. Về rủi ro tín dụng Hoạt động kinh doanh của ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
DNVVN vay vốn của Ngân hàng thường có nhiều rủi ro hơn so với các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên rủi ro thường nhỏ, vì các khoản vay của DNVVN thường là các khoản vay nhỏ, thời hạn ngắn và đi kèm với tài sản bảo đảm, khi gặp rủi ro Ngân hàng sẽ thanh lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về chất lượng tín dụng đối với DNVVN Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát 9 triển của Ngân hàng (Tín dụng và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại, 2022).
Chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ.) và khách quan (sự thay đổi của môi trường kinh tế, do chủ quan của khách hàng.) Chất lượng tín dụng đối với DNVVN thể hiện khả năng cấp tín dụng của ngân hàng thương mại đối với nhóm khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tương tự chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp, cũng được thể hiện, đánh giá thông qua các yếu tố định lượng và định tính, nhằm xác định chất lượng tín dụng cao hay thấp, đưa ra các giải pháp cần thiết để khắc phục hạn chế khi chất lượng tín dụng thấp và biện pháp cải thiện tín dụng đối với DNVVN. Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với KHDNVVN Nâng cao chất lượng tín dụng giúp phát triển nền kinh tế Ngân hàng thương mại là trung gian thanh toán, trung gian tín dụng của nền kinh tế, là nơi điều hoà nền kinh tế. Vì thế khi hoạt động tín dụng của ngân hàng được đảm bảo, an toàn và phát triển giúp nền kinh tế phát triển, hạn chế những bất lợi.
Đối với DNVVN, nhóm khách hàng đang dần chiếm thị phần lớn trong nền kinh tế thì khi chất lượng tín dụng đối với DNVVN được cải thiện giúp giảm áp lực cho nền kinh tế, dòng tiền của nền kinh tế không chỉ tập trung vào các doanh nghiệp lớn, hạn chế rủi ro tín dụng tập trung. Nâng cao chất lượng tín dụng giúp phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN giúp ngân hàng hạn chế những khoản NX, NQH. Ngân hàng đảm bảo được khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng cạnh tranh. Chất lượng tín dụng làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng 1.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với KHDNVVN 1.