Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG TRONG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. KHÁI QUÁT VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. Khái quát chung về nhà nƣớc pháp quyền "Xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" là thuật ngữ được sử dụng chính thức trong Văn kiện hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, từ đó đến nay Đảng ta tiếp tục khẳng định: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là quy luật tất yếu khách quan. Nó không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ loài người, của nền văn minh nhân loại.
Kế thừa những tư tưởng, giá trị tiến bộ về nhà nước pháp quyền trên thế giới và manh nha ở nước ta qua sự phát triển của các triều đại phong kiến ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành và điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn hiện nay có thể nêu ra một số đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa như sau: Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đặc điểm này thể hiện được bản chất của Nhà nước ta, đã được khẳng định tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức [31]. 14 Đối với Nhà nước ta, tính giai cấp gắn bó chặt chẽ với tính dân tộc và tính nhân dân.
Tư tưởng xây dựng một Nhà nước của dân, do dân và vì dân là bắt nguồn từ truyền thống đại đoàn kết dân tộc của các thế hệ người Việt Nam trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hơn 700 năm trước, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trước khi mất đã để lại những lời tâm huyết khuyên vua Trần Anh Tông: "Nên khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước". Lời khuyên đó thể hiện tầm nhìn sâu rộng của một nhà chính trị lỗi lạc, vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận hôm nay, bởi "chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân" (Nguyễn Trãi) và "gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (Hồ Chí Minh). Bài học lấy dân làm gốc với tư tưởng bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hành đều của dân nhất quán trong lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta tuy không mới, nhưng ngày nay vẫn luôn nóng bỏng tính thời sự trong học và thực hành đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý - phải lấy dân làm gốc.Vì khi dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, công bằng, không bức xúc vì tham nhũng, dân sẽ bảo vệ Đảng, Chính phủ.
Khi đó, không một thế lực bên ngoài nào dù mạnh và mưu mô quỷ quyệt đến đâu có thể can thiệp, gây rối, lật đổ. Nhà nước ta do dân lập nên, do dân bầu ra, dân kiểm tra, giám sát. Đó phải là Nhà nước hoạt động vì dân, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mình. Sức mạnh của Nhà nước bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân; phải xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh, gần dân, sát dân, thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của dân; bảo đảm trên thực tế quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, ra sức tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp. Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng hiến 15 pháp. Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sự hiện diện của Hiến pháp là điều quan trọng bậc nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân.
Vì vậy chủ nghĩa lập hiến là điều kiện để bảo đảm sự chính đáng về mặt pháp lý (tính pháp quyền) của các thiết chế quyền lực nhà nước cũng như của các hành vi có tính quốc gia. Hiến pháp có một vai trò quan trọng trong việc duy trì quyền lực của nhân dân, cho nên việc xây dựng và thực hiện một cơ chế hữu hiệu cho việc phát hiện, đánh giá và phán quyết về những quy định và hoạt động trái với Hiến pháp là rất cần thiết trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ta hiện nay. Tôn trọng Hiến pháp là tôn trọng ý chí phổ biến nhất và đầy đủ nhất của nhân dân. Chính vì vậy chủ nghĩa lập hiến đồng nghĩa với sự thừa nhận tính tối cao của chủ quyền nhân dân.
Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ chủ quyền Nhà nước, bảo vệ ý chí của nhân dân ta. Thứ ba, Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội. Pháp luật xã hội chủ nghĩa của chúng ta là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, đối nội, nội ngoại, pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Vì vậy nói đến pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là nói đến tính pháp luật khách quan của các quy định pháp luật, chứ không phải chỉ nói đến nhu cầu đặt ra pháp luật, áp dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách chung chung với mục đích tự thân của nó, pháp luật của Nhà nước ta phản ánh chủ trương, chính sách của Đảng và lợi ích của nhân dân.
Vì vậy pháp luật phải trở thành phương thức quan trọng đối với tính chất và hoạt động của Nhà nước và là thước đo giá trị phổ biến của xã hội 16 ta: Công bằng, dân chủ, bình đẳng - những tố chất cần thiết cho sự phát triển tiến bộ và bền vững của Nhà nước và xã hội ta. Đề cao pháp luật, tăng cường pháp chế phải đi liền với các mối quan tâm làm sao để đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo thói quen và nếp sống tôn trọng pháp luật trong cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân. Cho nên xây dựng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống phải thực sự là hai mặt của một nhiệm vụ. Đổi mới và hoàn thiện pháp luật phải đi liền với đổi mới và hoàn thiện thực tiễn áp dụng pháp luật.
Tăng cường hoạt động xây dựng pháp luật phải đi liền với việc hoàn thiện các thủ tục pháp lý, đổi mới và cải cách hành chính và hệ thống tư pháp. Đồng thời, đề cao pháp luật và pháp chế còn đặt ra nhiệm vụ phải bằng mọi cách nâng cao hiểu biết pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các vi phạm và tội phạm, kiên quyết chống quan liêu và tham nhũng trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ dân chủ Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội. Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi), khẳng định: "Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" [31].
Do đó Nhà nước có trách nhiệm pháp lý bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân, tức là tôn trọng và bảo vệ quyền chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Trong bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với toán thế giới rằng: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Vì vậy bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mở rộng quyền dân chủ, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, giữ công dân với Nhà nước… luôn được Đảng ta giành sự quan tâm đặc biệt.
17 Thứ năm, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước. Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quyền lực được tập trung, thống nhất, có sự phân công và phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp giữa các cơ quan, trong đó: Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp…thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.