CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN HỒ CHÍ MINH 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN HỒ CHÍ MINH 1. Bối cảnh lịch sử - xã hội của sự xuất hiện tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh a. Điều kiện lịch sử – xã hội Việt Nam Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, không mở ra cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới.
Không phát huy được những thế mạnh của truyền thống dân tộc và đất nước, không tạo ra tiềm lực vật chất và tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc, chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và hiệp định Patơnốt (1884) được ký kết, xã hội Việt Nam bước sang giai đoạn mới và trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Trong lòng xã hội thuộc địa có sự phân hóa giai cấp - xã hội sâu sắc, mâu thuẫn mới bao trùm lên mâu thuẫn cũ, làm cho xã hội Việt Nam càng thêm đen tối. Có thể kể ra các mâu thuẫn chính như: Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp; Mâu thuẫn giữa người dân lao động và triều đình phong kiến; Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp tư sản.
Trong suốt quá trình thực dân Pháp cai trị, từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống thực dân Pháp. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần vương” do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại. Rồi các phong trào yêu nước theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản cũng đều bị dìm trong bể máu. Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng khoảng sâu sắc về đường lối cứu nước, điều đó Luan van 7 cho thấy sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc.
Nguyễn Tất Thành sinh ra trong bối cảnh nước mất nhà tan và lớn lên trong phong trào cứu nước của dân tộc, Người đã sớm tìm ra nguyên nhân thất bại của các phong trào giải phóng dân tộc và quyết định ra đi tìm đường cứu nước - tìm một con đường đáp ứng nhu cầu lịch sử của cách mạng Việt Nam. Đó chính là con đường cách mạng vô sản. Bối cảnh thời đại Hồ Chí Minh bước vào vũ đài chính trị vào đầu thế kỷ XX khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và bành trướng thế lực ở thuộc địa. Theo Lênin, thế giới phân chia đa số (70%) các dân tộc bị áp bức, số ít (30%) các dân tộc đi áp bức.
Khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang độc quyền hình thành hệ thống thuộc địa làm nảy sinh mâu thuẫn mới của thời đại là mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với các dân tộc thuộc địa, bao trùm lên mâu thuẫn vốn có của thời đại: mâu thuẫn giữa tư bản và vô sản ở các nước phát triển, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ ở các nước lạc hậu. Năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa Mác-Lênin phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, thâm nhập vào phong trào cách mạng thế giới, trở thành hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại Quốc tế III được thành lập (1919). Năm 1922 Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết ra đời, đánh dấu sự liên minh vô sản trong nhiều quốc gia.
Sự xuất hiện của Quốc tế Cộng sản làm nảy sinh mâu thuẫn thời đại giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Vai trò định hướng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đem lại những thành quả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Quốc tế Cộng sản là Luan van 8 trung tâm tập hợp lực lượng cách mạng và chỉ đạo cách mạng thế giới. Bên cạnh đó, trên thế giới kể từ khi nhà nước tư sản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, nhà nước pháp quyền ban đầu từ nhà nước ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiện thực.
Do vậy, trên thực tế tồn tại khái niệm nhà nước pháp quyền tư sản và về thực chất nhà nước pháp quyền đang được tuyên bố xây dựng ở hầu hết các quốc gia tư bản phát triển và đang phát triển. Nhà nước pháp quyền tư sản coi thuyết "tam quyền phân lập" là học thuyết cơ bản trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, đây là nguyên tắc chính của chủ nghĩa lập hiến tư sản, tự do, dân chủ. Những tư tưởng và mô hình về Nhà nước pháp quyền kiểu phương Tây chứa đựng trong mình những thành tựu của các quan điểm dân chủ, tự do tiến bộ của cách mạng tư sản trên thế giới, pháp quyền thực chất là xây dựng tinh thần thượng tôn pháp luật. Vì những lẽ đó, Nhà nước pháp quyền được xem như một yếu tố của nền văn minh nhân loại.
Sống trong bối cảnh lịch sử thời đại này, từ thực tiễn hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, Hồ Chí Minh đã tìm ra những quy luật, đúc kết thành lí luận. Trong những năm bôn ba ở các nước tư bản phát triển, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu cách tổ chức Nhà nước ở đó, phê phán những mặt tiêu cực, tiếp thu những hợp nhân hợp lí trong nhà nước pháp quyền ở các nước tư sản trên thế giới. Hồ Chí Minh cũng không ngừng học hỏi, tiếp thu những thành tựu về xây dựng một chế độ ưu việt ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa để phát triển trong quan điểm của mình về một hình thức Nhà nước phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Cụ thể là sự chuyển biến trong tư tưởng của Người từ một Nhà nước công - nông - binh sang Nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự xuất hiện tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh a. Cơ sở lý luận - Tư tưởng pháp trị phương Đông Hàn Phi (281 TCN - 233 TCN) là học giả nổi tiếng Trung Quốc cuối thời Chiến Quốc, là học trò xuất sắc của Tuân Tử. Tư tưởng chính trị cơ bản của Hàn Phi là tư tưởng pháp trị, ông không phải là người sáng lập Pháp gia nhưng Hàn Phi thành vĩ đại là vì ông đã nâng các tư tưởng pháp trị lên thành một hệ tư tưởng. Ông nhìn thấy thực trạng chính trị đương thời, Hàn Phi đau xót: các vua chúa, mà trước hết là ở nước Hàn, chẳng lo soi sáng pháp chế, nắm lấy cái thế để chế ngự bầy tôi, lo nước giàu dân mạnh, dùng những người tài giỏi; trái lại, họ nghe theo bọn sâu mọt làm hại nước.
Hàn Phi có sẵn học vấn vô cùng uyên bác tiếp thu của Tuân Tử, ông kiểm soát lại tình hình chính trị của các thời đại, lý giải tại sao nước này mạnh, nước kia yếu, thời kỳ này cường thịnh, thời kỳ kia suy đồi. Ông thấy lý do rất đơn giản, những người nhà vua cần dựa vào để bảo vệ nước là người tài giỏi, binh sĩ, người cày thì bị vứt bỏ; trái lại nhà vua lo nuôi bọn lừa dối, làm hại đến nước. Không ai chịu xây dựng một kỷ cương, pháp luật để làm cho dân giàu nước mạnh mà chỉ vâng theo ham thích nhất thời, càng hiểu được sự thực ông càng thất vọng. Ông đã dốc hết tâm trí, gửi tất cả tâm hồn và tinh lực vào việc viết tác phẩm Hàn Phi tử để mong để lại đời sau cái học thuyết mà ông tin là sẽ làm cho dân yên, nước mạnh.
Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi tử là sự tổng hợp ba trường phái: trọng pháp; trọng thế và trọng thuật của Pháp gia. Ông khẳng định tầm quan trọng của pháp luật và cho rằng, pháp luật phải công khai - pháp là cái chép để ở trong sách vỡ, đặt nơi cửa công, ban bố cho trăm họ. Đã lập pháp luật thì cả nước, trên dưới đều biết, không ai được tự ý thay đổi. Luan van 10 Hàn Phi cho rằng, chỉ cần duy trì hiệu lực của pháp luật thì sẽ có thể giữ vững được trật tự chính trị bình thường và thu được những hiệu quả lớn.
Cho nên việc làm cho pháp luật không bị hỏng nát là tiền đề và mục đích tối cao của chính trị. Theo ông, chính trị tất cả đều xoay quanh tinh thần có phù hợp với pháp luật hay không. Tất cả cứ đúng mực thước, đúng pháp luật mà làm thì xã hội sẽ ổn định. Tư tưởng của Hàn Phi Tử đối nghịch lại với tư tưởng của Nho giáo (đức trị), ông cho rằng cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng pháp luật, ông rất đề cao pháp luật trong đường lối trị nước và khẳng định sự tất yếu phải trị nước bằng pháp luật.
Ông đã đề xuất tư tưởng “trị nước bằng pháp luật” (dĩ pháp trị quốc). Ông khẳng định vai trò của pháp luật trong sự phù với điều kiện xã hội, tính nghiêm minh và công khai của pháp luật, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Với ông, thưởng và phạt là hai cái cán, giúp cho kẻ thống trị kiểm soát, thậm chí nô dịch nhân dân…Người cai trị phải có tinh thần thượng tôn pháp luật. Vua phải dùng phép nước chứ không được theo ý mình.Vua dùng phép nghiêm minh thì bề tôi không thể lấn át được. Muốn cai trị giỏi thì vua phải áp dụng lý thuyết pháp trị.
Theo Hàn Phi, bậc minh quân khiến pháp luật chọn người chứ không tự mình tiến cử, khiến pháp luật đo lường công lao chứ không tự mình tính toán. Người cai trị phải biết dẹp bỏ riêng tư tôn trọng sự công bằng; biết suy xét, biết tôn trọng bề tôi, biết thuyết phục và lắng nghe. Bậc vua chúa cần nói năng cẩn thận, làm việc thận trọng, lấy tỉnh để khống chế động, lựa người để giao cho chức vụ thích hợp; tùy theo công việc mà thưởng phạt cho nghiêm minh. Chính sách cai trị phải dựa vào ý dân, dân muốn gì thì phải cấp cho cái đó, không muốn cái gì thì trừ cho cái đó.