CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN THUẾ GIÁ RỊ GIA TĂNG 1. Cơ sở lý luận về thuế GTGT và kế toán thuế GTGT 1. Tổng quan về thuế 1. Khái niệm Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân (cá nhân) và pháp nhân (tổ chức) có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.
(Trích từ Th.S Phạm Hồng Quyên (2016), Side môn Kế toán thuế 2) 1. Đặc điểm của thuế Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tập trung nhằm sử dụng cho các mục đích công cộng. Tuy nhiên, về bản chất thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, giá cả,.Đìều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản sau của thuế. Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế.
Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp -đạo luật gốc của một quốc gia. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội -cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Mặt khác, tính quyền lực của Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phần biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính khác cho Ngân sách nhà nước Sinh viên thực hiện: Lê Thị Đào Nhi 5 of Economics, Hue University Trường Đại học kinh tế Huế Khóa luận tốt nghiệp Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế.
Nhà nước thực hiện phương thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức thuế, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyềnlợi nào khác cho người nộp thuế. Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc nhưng chỉ áp dụng đối với những người vi phạm pháp luật. Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực tiếp. Còn phí, lệ phí mang tính hoàn trả trực tiếp cho người hưởng dịch vụ này Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện trên các khía cạnh: Thứ nhất: Sự chuyển giao thu nhập thống qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp.
Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nướccung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình thì mới nộp thuế cho Nhà nước. Thứ hai: Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hóa, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả.
Phân loại thuế Theo Th.S Phạm Hồng Quyên (2016), Side môn Kế toán thuế 1, thuế có thể chia thành các loại sau: a) Dựa theo phương thức đánh thuế Sinh viên thực hiện: Lê Thị Đào Nhi 6 of Economics, Hue University Trường Đại học kinh tế Huế Khóa luận tốt nghiệp Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế. Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật quy định đồng nhất với người phải chịu thuế. Ở đây, theo quy định của luật, thuế thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế. Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ.
Người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu loại thuế này. Thuế gián thu có đặc điểm là người nộp thuế theo luật và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó, họ mua hàng hóa với giá cả trong đó có cả thuế. Loại thuế này có sự dịch chuyển gánh nặng thuế trong những trường hợp nhất định.
b) Dựa theo cơ sở tính thuế Thuế thu nhập: bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được. Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần,.do đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần,. Thuế tiêu dùng: là loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại. Trong thực tế, loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng,.
Thuế tài sản: là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản. Ví dụ như thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp. Tài sản có nhiều hình thức biểu hiện: - Tài sản tài chính bao gồm tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thương phiếu,. - Tài sản hữu hình là những tài sản vật chất có thể nhìn thấy được như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng,.
- Tài sản vô hình là những tài sản không thể nhìn thấy được mà có thể đo lường được như nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kĩ thuật,. Sinh viên thực hiện: Lê Thị Đào Nhi 7 of Economics, Hue University Trường Đại học kinh tế Huế Khóa luận tốt nghiệp 1. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT 1. Khái quát chung về thuế GTGT Khái niệm Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
(Trích từ Điều 3 của luật 13/2008/QH12 ban hành ngày 03/06/2008 ) Đặc điểm của thuế GTGT - Thuế GTGT là loại thuế gián thu. - Thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ theo phân đoạn trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng cuối cùng. Do đó tránh được hiện tượng đánh thuế trùng lắp. - Người kinh doanh chịu trách nhiệm nộp thuế nhưng thực chất là nộp hộ cho người tiêu dùng.
- Phạm vi, đối tượng thu thuế rộng mặc dù thuế suất không cao so với các loại thuế gián thu khác như thuế Tiêu thụ đặc biệt và thuế Xuất nhập khẩu, nhưng nguồn thu vào ngân sách nhà nước lại cao hơn các thuế còn lại. - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu có tính trung lập cao bởi vì thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế. Vai trò của thuế GTGT - Thuế GTGT không gây ra hiện tượng thuế trùng thuế giúp cho giá cả hàng hóa, dịch vụ được xác định hợp lý và chính xác hơn. Góp phần ổn định giá cả, khuyến khích và thúc đẩy mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa.
- Thuế GTGT góp phần hình thành khoản thu ổn định cho ngân sách nhà nước. Sinh viên thực hiện: Lê Thị Đào Nhi 8 of Economics, Hue University Trường Đại học kinh tế Huế Khóa luận tốt nghiệp - Thuế GTGT áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và được khấu trừ hoặc hoàn lại toàn bộ số thuế GTGT của các yếu tố đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá bán đẩy mạnh xuất khẩu. - Thuế GTGT góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ. - Thuế GTGT giúp nhà nước kiểm soát được hoạt động, sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa nhờ kiểm soát được hệ thống hóa đơn, chứng từ, khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là trốn thuế.
Qua đó, còn cung cấp cho công tác nghiên cứu, thống kê những số liệu quan trọng. - Thuế GTGT góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp lý thông qua việc đánh thuế GTGT hàng nhập khẩu ngay từ khi nó xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam; bên cạnh đó thuế GTGT đánh vào hàng hóa xuất khẩu nhằm tạo ra thuế GTGT đầu ra để được hoàn thuế GTGT. Nội dung pháp luật hiện hành về thuế GTGT Đối tượng chịu thuế Theo quy định tại Điều 2 Thông tư 06/2012/TT-BTC: “Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài)”, trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT được quy định tại Điều 4 Thông tư 06/2012/TT-BTC. Người nộp thuế Theo Điều 3 Thông tư 06/2012/TT-BTC quy định: “Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu)”.
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Đào Nhi 9 of Economics, Hue University Trường Đại học kinh tế Huế Khóa luận tốt nghiệp 1. Căn cứ và phương pháp tính thuế Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất.