CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN KHOẢN PHẢI THU VÀ KẾ TOÁN KHOẢN PHẢI TRẢ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN KHOẢN PHẢI THU VÀ KHOẢN PHẢI TRẢ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Những vấn đề chung về khoản phải thu và dự phòng khoản phải thu khó đòi 1.1 Khái niệm khoản phải thu Theo mục 2.4 trang 52 Giáo trình Kế toán tài chính NXB Học viện Tài chính:“ Khoản phải thu là khoản nợ của các cá nhân, các tổ chức đơn vị bên trong và bên ngoài doanh nghiệp về số tiền mua sản phẩm, hàng hóa, vật tư và các khoản dịch vụ khác chưa thanh toán cho doanh nghiệp”. Theo khái niệm này, ta phải quan tâm đến hai yếu tố sau khi nhắc đến khoản phải thu: - Đối tượng của khoản phải thu: Cá nhân, tổ chức đơn vị bên trong đơn vị, bên ngoài doanh nghiệp. Cá nhân, tổ chức đơn vị bên trong đơn vị là nhân viên, cán bộ thuộc đơn vị trực thuộc, công ty con, chi nhánh. Cá nhân, tổ chức bên ngoài đơn vị là người bán hàng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, bán vật tư hàng hóa.
- Nội dung của khoản phải thu: Số tiền còn phải thu do mua sản phẩm, hàng hóa, vật tư và dịch vụ.2 Phân loại khoản phải thu a. Khoản phải thu khách hàng Theo trang 89 chương 3 – Giáo trình kế toán tài chính Học Viện Ngân Hàng:“Khoản phải thu của khách hàng là khoản phải thu phát sinh khi doanh nghiệp đã cung cấp sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng nhưng chưa được khách hàng thanh toán tiền”. Phải thu khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ các giao dịch có tính chất mua bán, như: phải thu khách hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính) giữa doanh nghiệp và người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các khoản phải thu giữa công ty mẹ và công ty con, liên doanh, liên kết). Khoản phải thu này Nguyễn Thị Thu Hương Lớp: K20-KTD Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng gồm cả các khoản phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên giao ủy thác thông qua bên nhận ủy thác.
Xét về mặt bản chất, khoản phải thu khách hàng là tài sản của doanh nghiệp nên doanh nghiệp cần kiểm soát chặt chẽ và có biện pháp thu hồi kịp thời. Trả trước người bán Trả trước người bán là khoản tiền mà doanh nghiệp đặt trước cho người bán để nhận hàng nhằm mục đính nhận chiết khấu từ phía khách hàng là nhà cung cấp. Doanh nghiệp trả trước tiền hàng cho người bán còn nhằm mục đích đảm bảo nhận được hàng khi thị trường đang khan hiếm hàng hóa đó, khi nhà cung cấp có quá nhiều đối tượng muốn mua hàng. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, ít doanh nghiệp đặt tiền hàng trước mà thường có xu hướng chiếm dụng vốn của đối tác hơn.
Phải thu nội bộ Thường phát sinh trong doanh nghiệp có sự phân cấp kinh doanh, quản lý và công tác kế toán. Nó bao gồm các khoản vốn, kinh phí đã cấp cho cấp dưới, các khoản thu hộ, chi hộ giữa cấp trên và cấp dưới trực thuộc và các khoản khác. Các khoản phải thu khác Phải thu khác gồm các khoản phải thu không có tính thương mại, không liên quan đến giao dịch mua bán như: - Các khoản phải thu tạo ra doanh thu hoạt động tài chính, như: khoản phải thu về lãi cho vay, tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia. - Các khoản chi hộ bên thứ ba được quyền nhận lại: các khoản bên nhận ủy thác xuất khẩu phải thu hộ cho bên giao ủy thác.
- Các khoản phải thu không mang tính thương mại như cho mượn tài sản, phải thu về tiền phạt, bồi thường, tài sản thiếu chờ xử lý… 1.3 Dự phòng khoản phải thu khó đòi a. Khái niệm Theo trang 94 chương 3 - Giáo trình Kế toán Tài chính - HVNH:“ Khoản phải thu khó đòi là các khoản nợ mà người nợ gặp khó khăn hoặc không có khả năng trả nợ đúng hạn. Phải thu khó đòi có thể là các khoản nợ phải thu bị quá hạn thanh toán trên hợp đồng kinh tế, nợ trên các khế ước cho vay hoặc các cam kết nợ khác. Khoản phải thu khó đòi có thể là khoản nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng Nguyễn Thị Thu Hương Lớp: K20-KTD Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng tổ chức kinh tế mắc nợ đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người mắc nợ mất tích bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết”.
Theo trang 95 chương 3 - Giáo trình Kế toán Tài chính - HVNH: “Dự phòng phải thu khó đòi là khoản dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán”. Việc lập dự phòng phải thu khó đòi được thực hiện vào cuối kỳ kế toán. Mức lập dự phòng đối với nợ phải thu khó đòi và việc xử lý xóa nợ khó đòi của các doanh nghiệp phải đảm bảo đúng các quy định pháp luật. Trích lập dự phòng phải thu khó đòi Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam phải trích lập và sử dụng dự phòng phải thu khó đòi theo quy định tại thông tư số 48/2019/TT- BTC, cụ thể: - Đối với nợ phải thu quá hạn thanh toán, mức trích lập dự phòng như sau: + 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 6 tháng đến dưới 1 năm.
+50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm. +70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm. +100% giá trị đối với khoản nợ phải thu từ 3 năm trở lên. - Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông và doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa, khoản nợ phải thu cước dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình trả sau và khoản nợ phải thu do bán lẻ hàng hóa theo hình thức trả chậm/trả góp của các đối tượng nợ là cá nhân đã quá hạn thanh toán mức trích lập dự phòng như sau: + 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 6 tháng.
+50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 6 tháng đến dưới 9 tháng. +70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 9 tháng đến dưới 12 tháng. +100% giá trị đối với khoản nợ phải thu từ 12 tháng trở lên. Đối với các khoản nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng doanh nghiệp thu thập được các bằng chứng xác định tổ chức kinh tế đã phá sản, đã mở thủ tục phá sản, đã bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh; đối tượng nợ đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án hoặc đang mắc bệnh hiểm Nguyễn Thị Thu Hương Lớp: K20-KTD Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng nghèo (có xác nhận của bệnh viện) hoặc đã chết hoặc khoản nợ đã được doanh nghiệp yêu cầu thi hành án nhưng không thể thực hiện được do đối tượng nợ bỏ trốn khỏi nơi cư trú; khoản nợ đã được doanh nghiệp khởi kiện đòi nợ nhưng bị đình chỉ giải quyết vụ án thì doanh nghiệp tự dự kiến mức tổn thất không thu hồi được (tối đa bằng giá trị khoản nợ đang theo dõi trên sổ kế toán) để trích lập dự phòng.4 Vai trò , nhiệm vụ của kế toán khoản phải thu Ghi chép phản ánh kịp thời chặt chẽ các khoản nợ phải thu khách hàng theo từng đối tượng, thời hạn thanh toán, chiết khấu.
Kế toán phải thu khách hàng phải nắm bắt về tình hình phải thu, chính sách bán chịu, thanh toán quốc tế. Định kỳ tiến hành lập báo cáo về tình hình phải thu khách hàng. Đối với những khách hàng thường xuyên cuối kỳ tiến hành đối chiếu công nợ. Kế toán phải xác minh tại chỗ hoặc yêu cầu xác minh bằng văn bản đối với các khoản nợ tồn đọng lâu ngày chưa và khó có khả năng thu hồi được để làm căn cứ lập dự phòng phải thu khó đòi về các khoản thu này.
Khoản phải thu khách hàng chủ yếu có số dư bên nợ, nhưng trong quan hệ đối với từng đối tượng phải thu có thể xuất hiện số dư bên có. Cuối kỳ kế toán, khi lập báo cáo tài chính, khi tính toán các chỉ tiêu phải thu, phải trả cho phép lấy số dư chi tiết các khoản nợ phải thu để lên hai chỉ tiêu bên “ Tài Sản” và bên “ Nguồn vốn” của bảng cân đối kế toán.2 Những vấn đề chung về khoản phải trả 1.1 Khái niệm Theo trang 213 chương 7 Giáo trình Kế toán tài chính -HVNH: “Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình”. Các khoản nợ phải trả là những nghĩa vụ của doanh nghiệp về các khoản thanh toán tương lai hoặc thực hiện các dịch vụ tương lai, là kết quả của các giao dịch quá khứ. Nợ phải trả có liên quan mật thiết tới các mục tiêu lợi nhuận và nhu cầu thanh khoản của doanh nghiệp.
Nợ phải trả là nguồn tiền cho đầu tư và tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp, nhưng chúng cũng là các nghĩa vụ đòi hỏi sử dụng tiền khi chúng bị yêu cầu hoàn trả. Với một mức nợ phải trả thích hợp là có ý nghĩa quyết Nguyễn Thị Thu Hương Lớp: K20-KTD Khóa luận tốt nghiệp 8 Học viện Ngân hàng định tới sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có quá ít nợ phải trả có thể không khai thác được tiềm năng của mình để thu lợi nhuận ngược lại nếu một doanh nghiệp có quá nhiều nợ phải trả có thể phải gánh chịu rủi ro quá mức.2 Phân loại nợ phải trả Các khoản nợ phải trả được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải trả, đối tượng phải trả, loại nguyên tệ phải trả và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của doanh nghiệp.