Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán công nợ và phân tích tình hình công nợ. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán công nợ và phân tích tình hình công nợ tại Công ty Cổ phần Quản lý đường bộ và Xây dựng công trình Thừa Thiên Huế. Chương 3: Một số giải pháp nhằm góp phần cải thiện công tác kế toán công nợ và tình hình công nợ tại Công ty Cổ phần Quản lý Đường bộ và Xây dựng Công trình Thừa Thiên Huế. Phần III: Kết luận và kiến nghị N goài ra, khóa luận này còn bao gồm danh mục từ viết tắt; danh mục bảng, biểu; danh mục sơ đồ, đồ thị và danh mục tài liệu tham khảo.
4 Formatted: 1, Tab stops: Not at 0.95" PHẦ II: ỘI DU G GHIÊ CỨU VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ KẾ TOÁ CÔ G Ợ VÀ PHÂ TÍCH TÌ H HÌ H CÔ G Ợ Formatted: 22, Tab stops: Not at 0.1 Một số lý luận liên quan về kế toán công nợ 1.1 Khái niệm về công nợ Quá trình hoạt động để sản xuất kinh doanh của mỗi một doanh nghiệp, ta thấy sẽ luôn phát sinh nhiều mối quan hệ khác nhau về quá trình mua các loại hàng hóa, công cụ dụng cụ thiết yếu phục vụ cho kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phNm của doanh nghiệp, các mối quan hệ thanh toán giữa người mua và người bán, thanh toán với cơ quan quản lý N hà nước, thanh toán với công nhân viên trong doanh nghiệp, … dựa vào các nội dung kinh tế, các nghiệp vụ thanh toán trong doanh nghiệp gồm các khoản phải thu và các khoản phải trả được gọi chung là công nợ.TS Võ Văn N hị, (2010) “Công nợ là một thuật ngữ kinh tế thể hiện quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các khoản vốn đang chiếm dụng và bị chiếm dụng bởi các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.” Theo N guyễn Tấn Bình, “Kế toán tài chính”, (2011) “Kế toán công nợ là một phần hành kế toán có nhiệm vụ hạch toán các khoản phải thu, nợ phải trả diễn ra liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.1 Khái niệm các khoản phải thu - Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, khi doanh nghiệp cung cấp hàng hóa cho khách hàng mà khách hàng chưa thanh toán thì sẽ phát sinh khoản phải thu. - N ợ phải thu còn được hiểu là phần vốn của doanh nghiệp đang bị các tổ chức, cá nhân trong hoặc ngoài doanh nghiệp sử dụng dưới dạng chiếm dụng hoặc được cung cấp tín dụng thương mại mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thu hồi. Việc quản lý các khoản phải thu là rất quan trọng bởi nó cung cấp thêm vốn để giảm nợ ròng và hỗ trợ các hoạt động của công ty.
5 - Các khoản phải thu là tài sản của công ty tính dựa trên tất cả các khoản nợ cần thu hồi, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các bên nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty. - Phân loại theo thời hạn thanh toán, khoản phải thu được chia thành 2 loại: Khoản phải thu ngắn hạn và khoản phải thu dài hạn. Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt Khoản phải thu ngắn hạn: Các khoản nợ cần thu hồi của doanh nghiệp có thời hạn không quá 12 tháng, hoặc nằm trong chu kì kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo. Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt Khoản phải thu dài hạn: Các khoản nợ cần thu hồi của doanh nghiệp trên 10 tháng hoặc lớn hơn một chu kì sản xuất, kinh doanh tại thời điểm cần báo cáo.
- Phân loại theo nội dung, khoản phải thu bao gồm: Phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác, … - Để phòng trừ các trường hợp xấu xảy ra, cần phải thiết lập các tài khoản “Dự phòng phải thu khó đòi” để tính trước các khoản lỗ và các khoản thu khó đòi với nguyên tắc: “Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn, không được đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí”. (Theo VAS 01 – Chugn mực chung) Formatted: Font: Italic, Condensed by 0.2 Khái niệm các khoản phải trả - Theo VAS 01 – ChuNn mực chung (2002), nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua như mua hàng hóa chưa trả tiền, sử dụng dịch vụ chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hóa, cam kết nghĩa vụ hợp đồng, phải trả nhân viên, thuế phải nộp, phải trả khác mà doanh nghiệp phải thanh toán từ nguồn nhân lực của mình. Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt - N ói cách khác, trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi doanh nghiệp cần mua Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt hàng hóa, dịch vụ mà nguồn lực của doanh nghiệp bị hạn chế bắt buộc doanh nghiệp Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt phải mua chịu từ nhà cung cấp. Hay đến thời gian thanh toán lương cho công nhân viên mà công ty chưa thanh toán, … thì từ đó phải sinh ra nợ phải trả nhà cung cấp, nợ phải trả công nhân viên, … 6 Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt - Việc theo dõi, quản lý công nợ là hết sức quan trọng, nó giúp doanh nghiệp nắm rõ được tình hình tài chính và đưa ra những giải pháp đáp ứng kịp thời.
Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt - Điều kiện để ghi nhận nợ phải trả: “N ợ phải trả được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi có đủ điều kiện chắc chắn là doanh nghiệp sẽ phải dùng một lượng tiền chi ra để trang trải cho những nghĩa vụ hiện tại mà doanh nghiệp phải thanh toán, và khoản nợ phải trả đó phải xác định được một cách đáng tin cậy.” (Theo VAS 01 – Formatted: Font: Italic Chugn mực chung) Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt - Phân loại theo nội dung kinh tế, nợ phải trả bao gồm: Phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải trả cho người lao động, thuế và các khoản phải nộp cho N hà nước, phải trả khác, … Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt - Phân loại theo thời hạn chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp thì nợ phải trả gồm 2 loại: N ợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt, Italic N ợ ngắn hạn: Là các khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả trong thời gian không quá một năm hoặc một chu kỳ sản xuất, kinh doanh, ví dụ như: nợ vay, phải trả người bán, thuế và các khoản phải nộp N hà nước, … N ợ dài hạn: Là những khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ hoàn thành thanh toán từ 12 tháng trở lên hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo, bao gồm các khoản như: vay dài hạn, phát hành trái phiếu, nhận ký quỹ, ký cược, … 1.2 <guyên tắc hạch toán của kế toán công nợ 1.1 Fguyên tắc hạch toán các khoản phải thu Formatted: Font: Italic Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC tại Điều 17 quy định về nguyên tắc về các Formatted: Font: Italic khoản phải thu như sau: Formatted: Font: Italic 1. Các khoản phải thu được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải thu, đối tượng phải thu, loại nguyên tệ phải thu và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của doanh nghiệp. Việc phân loại các khoản phải thu là phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác được thực hiện theo nguyên tắc 7 a) Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua – bán, như: Phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính) giữa doanh nghiệp và người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các khoản phải thu giữa công ty mẹ và công ty con, liên doanh, liên kết).
Khoản phải thu này gồm cả các khoản phải thu về tiền hàng xuất khNu của bên ủy thác thông qua bên nhận ủy thác; b) Phải thu nội bộ gồm các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dưới trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc; c) Phải thu khác bao gồm các khaonr phải thu không có tính thương mại, không liên quan đến giao dịch mua – bán, như: - Các khoản thu tạo ra doanh thu hoạt động tài chính, như: khoản phải thu về lãi cho vay, tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia - Các khoản chi hộ bên thứ ba được quyền nhận lại; Các khoản bên nhận ủy thác xuất khNu phải thu hộ cho bên giao ủy thác; - Các khoản phải thu không mang tính chất thương mại như cho mượn tài sản, phải thu về tiền phạt, bồi thường, tài sản thiếu chờ xử lý, … 3. Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải thu để phân loại là dài hạn hoặc ngắn hạn. Các chỉ tiêu phải thu của Bảng cân đối kế toán có thể bao gồm cả các khoản được phản ánh ở các tài khoản khác ngoài các tài khoản phải thu, như: Khoản cho vay được phản ánh ở TK 1283; Khoản ký quỹ, ký cược phản ánh ở TK 244; Khoản tạm ứng ở TK 141… Việc xác định các khoản cần lập dự phòng phải thu khó đòi được căn cứ vào các khoản mục được phân loại là phải thu ngắn hạn, dài hạn của Bảng cân đối kế toán. Kế toán phải xác định các khoản thu thỏa mãn định nghĩa của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (được hướng dẫn chi tiết ở tài khoản 413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái) để đánh giá lại cuối kỳ khi lập BCTC.2 Fguyên tắc hạch toán các khoản phải trả Formatted: Font: Italic Theo điều 40 tại Thông tư 200/2014/TT-BTC, Fguyên tắc kế toán các khoản nợ phải trả như sau: 1.
Các khoản nợ phải trả được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải trả, đối tượng phải trả, loại nguyên tệ phải trả và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của doanh nghiệp. Việc phân loại các khoản phải trả là phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải trả khác được thực hiện theo nguyên tắc: a) Phải trả người bán gồm các khoản phải trả mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản và người bán (là đơn vị độc lập với người mua, gồm cả các khoản phải trả giữa công ty mẹ và công ty con, công ty liên doanh, liên kết).