đặt vấn đề dân vận, công tác dân vận ở tầm chiến lược, quốc sách, đồng thời chú trọng tới phương pháp, cách thức thực hiện hết sức thiết thực cụ thể, chu đáo, tỉ mỉ. Tư tưởng về công tác dân vận xuyên suốt trong quá trình hoạt động cách mạng của Người, tư tưởng đó được khẳng định và thể hiện rõ nét qua bài báo “Dân vận” (đăng trên báo Sự thật, số 120, ngày 15-10-1949), bài báo đã trả lời được các câu hỏi: Dân vận là gì? ai làm công tác dân vận?. Có thể thấy, đối tượng công tác dân vận không phải là một cá nhân hay một nhóm xã hội nào mà là toàn thể nhân dân; hoạt động dân vận chính là nhằm thực hiện mục tiêu chung của cách mạng; nội dung cơ bản của công tác dân vận là tổ chức lực lượng nhân dân, đại đoàn kết toàn dân để thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Vì vậy, mọi cấp chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, viên chức của hệ thống chính trị đều phải phụ trách công tác dân vận.
Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình mà có nội dung cụ thể về công tác dân vận. Trong quá trình thực hiện, phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực chủ động, sáng tạo để có biện pháp vận động nhân dân cho phù hợp, thiết 13 n thực, hiệu quả. Hồ Chủ tịch nhấn mạnh: Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng.
Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò, vị trí và khẳng định tầm quan trọng của công tác dân vận. Quan điểm của Đảng về công tác dân vận được thể hiện xuyên suốt và thống nhất từ Cương lĩnh chính trị, văn kiện đại hội, các nghị quyết chuyên đề của Trung ương, quy chế, quy định… cùng sự vận dụng phù hợp theo từng thời kỳ cách mạng. Công tác dân vận không phải chỉ chú ý đến việc an dân mà quan trọng hơn phải có giải pháp để phát huy sức mạnh của Nhân dân.
Không những phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng đoàn kết và sự đồng thuận trong Nhân dân mà còn phải chăm lo tìm các giải pháp động viên, bảo đảm quyền làm chủ, phát huy các tiềm năng, sức mạnh trí tuệ sáng tạo, sức mạnh của Nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh, dựa vào dân để thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị. Tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Dân là người thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của Chính phủ, đoàn thể, nên dân phải được hiểu biết, bàn bạc và giám sát, do đó không chỉ có mặt trận, các đoàn thể chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương cũng phải làm công tác dân vận.
Trong bài báo “Dân vận” ngày 15 tháng 10 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh.) đều phải phụ trách dân vận”. Ở tầm khái quát có thể thấy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân vận chính quyền thể hiện rõ trong các luận điểm sau đây: Một là phục vụ nhân dân là nhiệm vụ vẻ vang của Nhà nước, của chính quyền. 14 n Xuất phát từ quan điểm: “trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân” và “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, “Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm”,… trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của Nhân dân”, Hồ Chí Minh xem việc được phục vụ Nhân dân là một vinh dự cao quý. Mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước và Nhân dân như vậy trở thành quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ, nhưng đây không phải là mối quan hệ “chủ - tớ” theo nghĩa thông thường và càng không nên hiểu Nhân dân trở thành một loại ông chủ chỉ biết sai khiến, “chỉ tay năm ngón”.
Như trên đã nói, trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước và nhân dân, không chấp nhận việc cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước bao biện, làm thay Nhân dân, và thật ra không ai có thể làm thay nhân dân vì “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, nếu Nhân dân không ra tay và “không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy” “là cũng không xong…” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Thứ hai là Nhà nước phải nêu cao tinh thần phụ trách trước dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đề cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần phụ trách của cán bộ, nhân viên nhà nước trước dân; Nhân dân là người chủ xã hội, nhưng quyền làm chủ đó Nhân dân trao và thực hiện chủ yếu thông qua bộ máy nhà nước. Vấn đề lớn đặt ra là làm sao người được trao quyền, sử dụng quyền cho đúng quyền hành được trao, sử dụng có hiệu quả và có hiệu lực, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.
Mặt khác, luôn luôn đề phòng khả năng là người được trao quyền sẽ lạm dụng hoặc sử dụng tắc trách quyền đó và điều rất tệ hại là biến Nhân dân thành người chủ trên danh nghĩa và trên thực tế là người bị o ép, bó tay bó chân, chỉ để bị sai khiến và phục vụ các “ông quan cách mạng”. Thứ ba, Nhà nước, chính quyền không được hao phí sức dân. Năm 1950, trong bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chỉ thị mà xét theo nội dung có ý nghĩa chỉ đạo không chỉ đối với quân đội mà cả đối với bộ máy nhà nước nói chung: “không được phung phí nhân lực, vật lực của Dân. Khi huy động nên vừa phải, không nên nhiều quá lãng phí vô ích.
Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống Nhân 15 n dân”. Trong bức điện gửi các cán bộ và chính quyền và đoàn thể miền Nam Trung Bộ, Người cũng chỉ ra những “khuyết điểm nặng” cần được sớm khắc phục như: động viên vét đến tài sản gốc sinh kế của dân như ruộng đất, trâu bò, vốn liếng”. Một căn bệnh của các nhà nước thường mắc phải là huy động và sử dụng phung phí sức dân, dùng sức dân vào những công việc không mang lại lợi ích thiết thực, huy động và sử dụng sức dân vô tội vạ hoặc sai mục đích. Người phân phán mạnh mẽ hiện tượng “Không tiết kiệm đồng tiền, bát gạo là mồ hôi, nước mắt của Nhân dân”.
Trong mỗi dịp về thăm một địa phương, Người đã lưu ý lãnh đạo địa phương: “Ngay trên tỉnh cũng còn hiện tượng hình thức, tốn kém tiền bạc Nhà nước, lãng phí công sức của Nhân dân, như việc làm cổng của nhà triển lãm, việc phá đi xây lại nền nhà của Tỉnh ủy… Trung ương và Bác rất phiền lòng về những khuyết điểm ấy”. Người cũng phê phán hiện tượng: “…tập lễ nhạc để đi chữa cháy”… Thứ tư, Nhà nước, cán bộ, công chức phải yêu dân, kính dân để được dân yêu, dân kính. Nhận ra tầm quan trọng của mối quan hệ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên giáo dục, rèn luyên nhân viên nhà nước tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện, ý thức xây dựng mối quan hệ với dân trên cơ sở của sự tin cậy nhau, hiểu biết nhau. Mặt khác, Người đòi hỏi một thái độ chủ động, đi bước trước từ phía các cơ quan, nhân viên nhà nước: “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.
Điều này là hoàn toàn dễ hiểu. Trong bao nhiêu năm, nhất là dưới chế độ cũ, quần chúng nhân dân là đối tượng của quyền lực, chịu mọi bất công, áp bức hà khắc, thái nđộ vô trách nhiệm, tắc trách của nhân viên nhà nước. Vì vậy, họ vẫn có thái độ nghi ngại, ngờ vực đối với các nhân viên nhà nước nói chung, dù trong xã hội nào họ vẫn là người nắm quyền lực, sức mạnh của quyền lực thuộc về những kẻ nhân danh Nhà nước. Mặc cảm đó không dễ gì xóa bỏ.
Vì vậy, nhân viên nhà nước phải có thái độ, ý thức chủ động, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân”. Người kịch liệt phê phán những người: “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nó “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của 16 n quần chúng”. Người chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng đó: “Nguyên nhân bệnh ấy là: Xa Nhân dân… Khinh Nhân dân…Sợ Nhân dân…Không tin cậy Nhân dân… Không hiểu biết Nhân dân… Không yêu thương Nhân dân…” Thứ năm, Nhà nướ, chính quyền phải dựa trên ý thức làm chủ Nhà nước của dân.
Năm 1961, tại Hội nghị bàn về cuộc vận động chỉnh huấn mùa xuân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một bài phát biểu quan trọng, trực tiếp đề cập đến một vấn đề cơ bản trong tư tưởng của Người về Nhà nước: ý thức làm chủ Nhà nước của công dân. Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh không nói đến ý thức làm chủ nói chung mà nói đến ý thức làm chủ Nhà nước và quyền làm chủ Nhà nước. Về mặt này, phải nói rằng, quan niệm của Người có ý nghĩa phương pháp luận và ý nghĩa chỉ đạo cực kỳ sâu sắc. Người nói: “Nhà nước ta ngày nay là của tất cả nghững người lao động…nhân dân lao động ta là những người làm chủ nước ta… Đã là người chủ Nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà… Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ.
Mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà. Chớ nên “ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau”. Thứ sáu, Nhà nước và Nhân dân có quan hệ phải công bằng. Quan hệ giữa Nhà nước, nói cụ thể hơn, giữa cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước với công dân là mối quan hệ đa dạng và không đơn tuyến, được triển khai trên nhiều lĩnh vực, phương diện.