Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Cơ sở lý luận về sự tham gia của người dân trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 1. Một số khái niệm (1) Sự tham gia của người dân Sự tham gia của người dân được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào hoạt động và mức độ tham gia của người dân. Theo Florin, Paul (1990), “Sự tham gia của người dân là một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ” Theo Setty (1991), “Sự tham gia của người dân là người dân cùng với các cơ quan phát triển xây dựng chương trình hoạt động, lựa chọn ưu tiên, khởi xướng và thực hiện các dự án bằng cách đóng góp ý kiến, mối quan tâm, vật liệu, tiền bạc, lao động và thời gian” Sự tham gia của người dân được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào hoạt động và mức độ tham gia trên cơ sở tự nguyện.
Tuy thuộc vào chương trình và các hoạt động tham gia có thể là tham gia góp ý kiến, tham gia giám sát hay tham gia trực tiếp trong hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng công trình như CHương trình MTQG XD NTM ở nước ta hiện nay. (2) Khái niệm nông thôn Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác; phân biệt với đô thị. 7 Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính là Ủy ban nhân dân cấp xã” Theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13, ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII: Nông thôn là những vùng đất, vùng sinh sống, làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, là nơi có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp, chưa đạt các tiêu chuẩn được phân loại đối với đô thị loại V.
Các nước trên thế giới phân chia lãnh thổ thành hai khu vực: thành thị và nông thôn. Đô thị dân cư đông đúc, là trung tâm thương mại, dịch vụ, công nghiệp, cơ sở hạ tầng phát triển, tiếp cận thị trường thuận lợi, lao động công nghiệp, dịch vụ, công chức là chủ yếu. Nông thôn mật độ dân cư thấp, điều kiện tiếp cận thị trường khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, cư dân chủ yếu làm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp. Liên hiệp quốc đã đề cập đến khái niệm nông thôn - đô thị, là khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẽ nhau, có xu hướng phát triển trong quá trình đô thị hóa.
Khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục nghiên cứu để có khái niệm chính xác và hoàn chỉnh hơn. Xét về bản chất kinh tế - xã hội, định nghĩa nông thôn cần được xem xét trên nhiều mặt và từ đó hình thành nên những tiêu chí tổng hợp để xác định khái niệm nông thôn. Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất một số tiêu chí cơ bản sau đây: - Về địa lý, nông thôn là vùng đất đai rộng lớn tạo thành vành đai bao quanh các khu vực đô thị. 8 - Về kinh tế, nông thôn là địa bàn trên đó diễn ra chủ yếu các hoạt động nông, lâm, thủy sản và các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn kết khá chặt chẽ với nông, lâm, thủy sản.
- Về dân số, gia đình nông thôn là bộ phận chủ yếu của cơ cấu dân cư và có mật độ dân cư thấp. - Về mặt văn hoá, là nơi còn lưu giữ được nhiều di sản văn hoá, phong tục tập quán và những di sản văn hoá phi vật thể của quốc gia, dân tộc. - Về phương diện môi trường sinh thái, là nơi mà về cơ bản môi trường thiên nhiên vẫn còn được giữ gìn tốt, sự huỷ hoại về môi sinh chưa trở thành những vấn đề gay gắt. - Về cơ sở hạ tầng, là nơi mà cơ sở hạ tầng thấp kém hơn đô thị, cả về hạ tầng xã hội và hạ tầng vật chất - kỹ thuật.
Như vậy, nông thôn là một khu vực kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Khu vực này có những đặc thù nhất định, mà đặc thù lớn nhất gắn liền với những đặc điểm riêng có của nông thôn. (3) Khái niệm nông thôn mới Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008, Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn: Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Nội dung, nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới 1.
Nội dung xây dựng nông thôn mới Nội dung XD NTM được xác định trên bốn phương diện 9 a. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, đảm bảo kết nối nông thôn - đô thị và kết nối các vùng miền: - Chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn. Từ các cơ cấu thiết yếu đến nhu cầu bắt kịp tốc độ phát triển chung. Tạo kết nối đồng bộ, nhất là kết nối liên xã, liên huyện, liên tỉnh.
Qua đó dần tạo đà và tiềm năng trong các nhu cầu, hoạt động của các ngành nghề khác nhau. - Mở rộng và hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng trung tâm. Chú trọng đầu tư hình thành và phát triển hệ thống cung ứng, kết nối nông sản hiện đại cấp huyện. Mang đến các khai thác, tiếp cận và phát triển lợi thế về nông sản.
Chủ động giải pháp ứng phó với thiên tai và biến đổi khí. Để đảm bảo quy mô, chất lượng nông sản cũng như các ngành liên quan. - Thiết chế hạ tầng nông thôn của các khu đô thị, thành phố lớn phải yêu cầu cao hơn so với các khu vực khác. Từ đó, thiết lập các khu đô thị vệ tinh, dần mở rộng tiềm năng kinh tế một cách chắc chắn, chủ động.
Đồng thời, có cơ chế đột phá đầu tư phát triển hệ thống giao thông cho những địa bàn khó khăn. Đây là các vùng có nhiều tiềm năng tự nhiên, khoáng sản, rừng, địa chất,… với các tiềm năng sẵn có. Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập người dân: - Thực hiện theo hướng bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu. Có lộ trình cụ thể để thực hiện XD NTM.
Trong đó, chú trọng khai thác được lợi thế của mỗi vùng, miền. Dần dần mang đến các thay đổi thực tế, tạo nên sức mạnh đồng đều giữa các khu vực. - Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, thực hiện trong điều kiện cần của nhu cầu phát triển mới. Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Mang đến chất lượng tốt, giá thành cao cũng như đáp ứng nhu cầu xuất khẩu. - Thực hiện tốt việc chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sản nuôi trồng các loại cây, con khác có hiệu quả cao hơn. Vẫn đảm bảo các vùng đất 10 trồng lúa cho sản lượng và thu nhập ổn định. Bên cạnh tìm kiếm các cơ hội nuôi trồng cho kết quả cao hơn.
- Chú trọng đến các mô hình du lịch nông thôn, du lịch sinh thái, gắn với đẩy mạnh phát triển các sản phẩm OCOP truyền thống… Nhất là những loại đặc sản của vùng, miền, có giá trị kinh tế cao,… Mang đến các ngành dịch vụ tiềm năng trong nét văn hóa, lịch sử của từng vùng miền. - Tạo cơ chế, chính sách ưu đãi hơn để thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực chế biến. Thực hiện khai thác tốt nhất các tiềm năng để mang đến chất lượng kinh tế. Nhờ đó nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, bao tiêu sản phẩm và lĩnh vực phi nông nghiệp.
Mở ra nhiều cơ hội ngành nghề đa dạng và tạo nhiều việc làm cho lao động. Cũng như mang đến bộ mặt mới của khu vực, vùng miền. Bảo vệ môi trường và cải tạo cảnh quan nông thôn: - Thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư các khu xử lý rác tập trung quy mô liên huyện, liên tỉnh. Để đảm bảo trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
Đồng thời khuyến khích phát triển các mô hình xử lý nước thải sinh hoạt quy mô hộ, cấp thôn trong cộng đồng dân cư. Phải có ý thức thực hiện từ các hộ nhỏ nhất đến khoanh vùng các nhà máy, công trình. - Tiếp tục phát động và duy trì các phong trào nói không với rác thải nhựa. Vận động, tuyên truyền và nâng cao nhận thức trong sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường.
Tái sử dụng chất thải nông nghiệp đảm bảo đúng quy định về vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm, cải tạo cảnh quan môi trường. Tùy thuộc vào nhu cầu và mục đích sử dụng hiệu quả. - Tập trung phát triển các mô hình thôn, xóm xanh, sạch, đẹp làm tiền đề cho phát triển du lịch nông thôn. Vừa mang đến chất lượng sinh hoạt tốt, chất lượng sức khỏe hiệu quả.
Đẩy mạnh xử lý môi trường ở những nơi gây ô nhiễm nghiêm trọng (làng nghề, bãi tập trung chôn lấp, xử lý rác, nước thải…). Đặc biệt thông qua các quy trình công nghệ và các tổ chức có nghiệp vụ thực hiện. Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa cơ sở: - Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nhân rộng các mô hình du lịch, trải nghiệm. Giữ gìn an ninh và trật tự xã hội nông thôn.
Từ đó, mang đến nhiều tiềm năng phát triển trong các ngành nghề, lĩnh vực.