Chương 1 sẽ giới thiệu về bối cảnh chính sách và vấn đề chính sách. Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm và kinh nghiệm của các nước về thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Chương 3 trình bày thực trạng kết quả phân tích chính sách chi trả DVMTR trên cả nước và trường hợp tỉnh Lào Cai. Cuối cùng, những kết luận và khuyến nghị đề xuất sẽ được trình bày ở Chương 4.
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Chi trả DVMTR Các hoạt động phát triển kinh tế xã hội đang tạo ra nhiều áp lực đến các hệ sinh thái. Việc áp dụng chi trả dịch vụ môi trường là một công cụ để giảm thiểu các tác động đến hệ sinh thái và đa dạng sinh học (Lê Văn Hưng, 2013). Khung pháp lý hiện hành ở Việt Nam (Phụ lục 1) cho phép áp dụng các công cụ giá cả và thị trường cho thuế, tính phí hoặc đặt ra cho hàng hoá và dịch vụ hệ sinh thái, quản lý rừng và chia sẻ lợi ích giữa cộng đồng nhà nước và cộng đồng thôn bản với việc hợp đồng và giao đất lâm nghiệp (Hạnh và cộng sự, 2008). Chi trả DVMTR là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng và bên cung ứng bằng việc trả tiền cho những DVMTR được cung cấp (Chính phủ, 2010).
Công cụ dựa trên thị trường này đã đóng góp đáng kể cho công tác BVPTR cũng như đem lại lợi ích về tài chính cho các hộ gia đình là chủ rừng bảo vệ rừng (Bùi Đức Tình và cộng sự, 2012). Tiền chi trả DVMTR có những đặc tính của một loại phí sử dụng (Phụ lục 2). Tức là người sử dụng dịch vụ chi trả cho những dịch vụ mà họ nhận được gắn với lợi ích cụ thể. Phí sử dụng có tác dụng như thuế lợi ích với việc tính phí từng cá nhân phụ thuộc vào cả lợi ích (sử dụng) và chi phí của việc cung ứng (Ronald C.
Chi trả DVMTR ở Việt Nam vừa có đặc tính như chi trả dịch vụ môi trường nói chung vừa có đặc điểm riêng của Việt Nam (các khái niệm liên quan xem Phụ lục 3). Song cơ chế chi trả DVMTR ở Việt Nam lại có sự khác biệt ở chỗ những định mức chi trả do Chính phủ quyết định, mức chi trả này hoạt động hiệu quả dưới hình thức thuế hay phí về điện, nước và du lịch (Phạm Thu Thủy và cộng sự, 2013). Do đó, trong nghiên cứu này tác giả áp dụng lý thuyết về thuế/phí sử dụng để phân tích chính sách chi trả DVMTR. Để đảm bảo tính thống nhất cũng như phù hợp với thực tiễn quy định ở Việt Nam, nghiên cứu sử dụng khái niệm về chi trả DVMTR theo Nghị định 99 nói trên.2 Khung phân tích Dựa trên khung (Stiglitz, J.
Rosengard, 2015) về năm đặc điểm đáng mong đợi của một hệ thống thuế bền vững (Phụ lục 4). Tiền chi trả DVMTR có đặc tính của phí sử dụng hay thuế lợi ích. Do đó, tác giả sử dụng khung về năm đặc điểm đáng mong đợi của một hệ thống thuế tốt có điều chỉnh trong áp dụng tại Việt Nam nhằm phân tích sự bền -6- vững của một chính sách thu phí DVMTR về tính hiệu quả, tính công bằng, tính khả thi hành chính. Đặc điểm của hệ thống phí bền vững Hệ thống phí DVMTR Tính công bằng đáng mong đợi/bền Tính hiệu quả vững Tính khả thi hành chính Nguồn: tác giả vẽ lại theo (Stiglitz, J.1 Tính hiệu quả Hệ thống phí vừa giúp tăng thu ngân sách đồng thời cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực, khiến tổn thất xã hội ở mức thấp nhất.
Một hệ thống phí được cho là hiệu quả khi mức phí thấp và diện chịu phí rộng, được thiết kế hiệu quả khi không gây méo mó biến dạng. Hiệu quả kinh tế tức là đảm bảo nguồn thu ngân sách (đảm bảo mục tiêu tạo nguồn tài chính ổn định) và gây ra mất mát vô ích nhỏ nhất. Hệ thống phí được thiết kế khuyến khích các đối tượng nộp phí vẫn đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Thiết kế phí DVMTR phải đảm bảo các thành phần chi trả tuân thủ mà không theo hướng trốn, tránh nộp phí.
Tránh trường hợp thiết kế hệ thống thu phí, cơ cấu thu tiền không hợp lý khiến không khuyến khích tuân thủ, làm xói mòn cơ sở thuế. Dẫn đến mất lòng tin của người nộp, gây khó khăn trong việc đề xuất nguồn thu mới. Ví dụ, nếu áp dụng mức phí quá thấp sẽ khiến các doanh nghiệp có động cơ khai thác tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn, đi ngược lại mục tiêu bảo vệ môi trường ban đầu. Các công ty du lịch giảm lượng khách vào các điểm tham quan có mức phí cao để giảm phí sẽ khiến hiệu quả kinh doanh giảm đi gây ra tổn thất chung.2 Tính công bằng Tương tự như thuế, hệ thống phí sử dụng phải công bằng về cách đối xử tương đối với các cá nhân khác nhau.
Hệ thống phí nên công bằng và được mọi người nhìn nhận là công bằng – đối xử tương tự như nhau trong những tình huống tương tự nhau, và áp phí cao với những người có khả năng chịu gánh nặng phí tốt hơn Theo (Shome, 1995), tính công bằng hàng ngang là hành xử thuế một cách bình đẳng đối với những cá nhân quân bình. Hệ thống phí đảm bảo công bằng hàng ngang nếu những cá nhân như nhau trên mọi phương diện phù hợp được đối xử như nhau. Chẳng hạn như cùng tiêu thụ 1kwh điện hay 1m3 nước thì đóng phí như nhau. Tính công bằng hàng dọc là những cá nhân ở vào vị thế đóng phí cao hơn so với người khác thì nên đóng cao hơn.
Tùy thuộc vào khả năng chi trả, ai có mức chi trả cao hơn, sử dụng nhiều điện, nước hay dịch vụ hơn không những nên trả tiền phí nhiều hơn mà còn nên trả mức phí cao hơn.3 Tính khả thi hành chính Hệ thống phí nên có chi phí tuân thủ và chi phí thực hiện thấp, đảm bảo tính minh bạch và có thể dễ dàng thích ứng với tình hình thay đổi. Thứ nhất, hệ thống phí phải dễ dàng và tương đối không tốn kém khi thực hiện, việc tuân thủ dễ dàng và tự nguyện. Việc tổ chức thực hiện hệ thống phí không làm phát sinh chi phí đáng kể. Những chi phí tuân thủ bao gồm: (i) Chi phí trực tiếp là chi phí hành chính như việc tổ chức cơ quan thu, tiền lương, hệ thống thông tin quản lý… Việc áp dụng hệ thống công nghệ thông tin giúp quá trình nộp dễ dàng, thuận tiện và theo dõi, giám sát được các khoản thu nộp.
(ii) Chi phí gián tiếp là chi phí tuân thủ như chi phí thời gian, ghi chép sổ sách, dịch vụ kế toán, luật sư thuế… Ở đây đánh giá trình tự, thủ tục kê khai, nộp phí DVMTR được tiến hành thủ công hay hiện đại liên quan đến thời gian và công sức tuân thủ. Thứ hai, hệ thống phí phải linh hoạt, có khả năng đáp ứng một cách dễ dàng và tự động trong một số trường hợp khi tình hình kinh tế thay đổi đòi hỏi phải thay đổi mức phí, cơ sở thuế… Tính linh hoạt thể hiện sự dễ dàng trong điều chỉnh và quy trình chính trị có phức tạp không? Quá trình thay đổi này có vấp phải sự phản đối hay những trở ngại từ phía người nộp phí hay không? -8- Thứ ba, hệ thống phí phải có trách nhiệm chính trị minh bạch liên quan đến việc giám sát quá trình thu phí và cách thức giám sát. Hệ thống phí nên được thiết kế sao cho các cá nhân có thể xác nhận họ nộp bao nhiêu, và có thể đánh giá hiệu quả hệ thống một cách chính xác như thế nào. Đồng thời, hiệu quả sử dụng tiền phí thu được ảnh hưởng đến niềm tin của người nộp phí và tác động đến tính tuân thủ các quy định về phí.3 Kinh nghiệm áp dụng Chi trả DVMTR ở các nước Tại Hoa Kỳ, người dùng nước trong Chương trình quản lý đầu nguồn ở Thành phố NewYork bị đánh thuế để nộp bổ sung vào quỹ của chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương.
Bên cung cấp dịch vụ là những nông dân nuôi bò và trồng rừng được nhận 40 triệu đô la Mỹ/năm để thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp và tái tạo rừng cung cấp nguồn nước cho công ty cấp nước thành phố (Nels Johnson và cộng sự, 2001). Tại Columbia, dùng thuế dịch vụ môi trường (eco-tax) đánh trên người dùng nước cho công nghiệp và đô thị để quản lý rừng đầu nguồn. Theo đó, những người dùng nguồn nước được sử dụng thường xuyên cho cấp nước sinh hoạt, cho công nghiệp phải chi trả thuế dịch vụ môi trường cho các chủ đất tư nhân và đô thị để họ cải thiện quản lý rừng, mở rộng trồng rừng (Nels Johnson và cộng sự, 2001). Tại Costa Rica, nguồn tiền cho Chương trình Chi trả cho các dịch vụ hệ sinh thái của Costa Rica (PES) chủ yếu là nguồn thu thuế từ nước, nhiên liệu hóa thạch, và quỹ ủy thác bảo tồn rừng (Ina Porras và cộng sự, 2013).
Chương trình đã trở thành một điển hình về bảo tồn trên thế giới. Kết quả của chương trình là sự kết hợp các quy định và công cụ kinh tế để bảo tồn và tái sinh hệ sinh thái. Gần một triệu ha rừng ở Costa Rica đã tham gia chương trình PES, nâng tỷ lệ che phủ rừng từ mức thấp chỉ khoảng 20% trong những năm 1980 đạt hơn 50% diện tích đất của cả nước vào những năm 1997.4 Phương pháp luận 2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu Tác giả chọn Lào Cai vì tỉnh đã áp dụng thu phí DVMTR từ năm 2011, đại diện cho quá trình áp dụng chính sách tại địa phương. Đồng thời là một tỉnh phía Bắc thí điểm mở rộng cơ sở thu phí DVMTR đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp và nuôi cá nước lạnh.
Thêm vào đó, gần đây nổi lên những tranh cãi, bức xúc liên quan đến việc thực hiện chính sách -9- thu phí DVMTR đối với các hoạt động du lịch tại tỉnh.2 Phương pháp thu thập thông tin Thu thập thông tin thứ cấp Thu thập thông tin thứ cấp từ các báo cáo tình hình thực hiện chính sách chi trả DVMTR các năm từ 2011 đến 2016 của Bộ NNPTNT, của Quỹ BVPTR tỉnh Lào Cai, các số liệu thống kê từ các nguồn thu, chi trên cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai, website ngành. Tham khảo nội dung báo cáo kết quả kiểm tra các đơn vị không chấp hành chính sách chi trả DVMTR năm 2016 của Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh và các nghiên cứu trước về kinh nghiệm của các nước trong việc thực hiện chi trả DVMTR.