Lời mở đầu Theo Bản báo cáo dân số thế giới năm 2009 của Cục khảo sát dân số mới được công bố vào tháng 6/2010, trong vòng 40 năm nữa, sự phát triển của 97% dân số thế giới diễn ra ở Châu Á, Châu Phi, châu Mỹ Latinh và Caribê. Chủ yếu sự phát triển dân số nằm ở các nước đang phát triển. Và tới năm 2050, dân số thế giới có thể dạt tới 9,4 tỷ người. Đến năm 2050, dự đoán Ấn Độ sẽ trở thành nước đông dân nhất thế giới, với 1,7 tỷ người, Ấn Độ sẽ là nước có số dân cao nhất thế giới và cao hơn nước có dân số cao nhất hiện tại là Trung Quốc.
Đến năm 2050, dân số Trung Quốc dự đoán tăng lên 1,4 tỷ người. Và Mỹ sẽ đứng thứ ba trên bảng xếp hạng dân số, với 439 triệu người. Với dân số thế giới tăng không ngừng và chất lượng môi trường càng ngày càng giảm sút do các hoạt động sản xuất của con người và trong tương lai môi trường sống của con người sẽ bị đe dọa nghiên trọng nếu không có những biện phát quản lý và biện pháp cải tạo lại hoạt động sản xuất của con người sao cho phù hợp và thân thiện hơn với môi trường. Ảnh hưởng lớn nhất của các hoạt động của con người đến môi trường xung quanh là việc biến đổi khí hậu toàn cầu.
Biến đổi khí hậu là một vấn đề môi trường nghiêm trọng có nguy cơ gây ra sự thay đổi lớn tên hành tinh, bao gồm cả con người và sinh vật, chính vì thế biết được tác động có thể xảy ra và có các biện pháp làm giảm biến đổi khí hậu là vấn đề cấp bách nhất mà môi trường thế giới đang quan tâm. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng tới các hoạt động sống của con người và các sinh vật sống trên hành tinh. Biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ gây ra các vấn đề đáng lo ngại như: Con người: ảnh hưởng tới diện tích đất đai sinh sống của con người khi băng tan ở hai cực, lượng mưa thay đổi không đồng đều giữa các mùa trong năm. Lũ lụt, bão, hạn hán xảy ra thường xuyên… Vấn đề lương thực sẽ là mối lo ngại của các quốc gia Châu Á trong những năm tới.
1 Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại thành phố Hồ Chí Minh Sinh vật: suy giảm đa dạng sinh học và mất dần nơi cư trú của các loài động vật. Suy giảm đa dạng sinh học sẽ là nguồn tổn thất nguồn gien trong tự nhiên. Thực vật: tình trạng chặt phá rừng để canh tác và khai thác gỗ đang làm mất dần môi trường sống, nhiều loài thực vật quý hiếm và dược phẩm quý đã tuyệt chủng trong tự nhiên… Khí hậu: nhiệt độ trái đất ngày càng nóng dần lên và chất lượng không khí đang dần giảm sút do các khí gây ô nhiễm mà con người thải vào khí quyển. Việt Nam là một trong những quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất do biến đổi khí hậu.
Đặc biệt tại Việt Nam thì TP.HCM là thành phố đứng đầu về phát triển dân số và tập trung nhiều ngành sản xuất công nghiệp. Vì vậy vấn đề quản lý môi trường tại TP.HCM là vấn đề rất khó quản lý và xử lý đối với các cơ quan quản lý để đưa ra những biện pháp nhằm đưa thành phố hướng tới sự phát triển bền vững trong tương lại.2 Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay Việt Nam và thế giới đang hướng đến phát triển bền vững và cải tạo môi trường sống cho con người, hiện nay các hoạt động công nghiệp phát triển trên thế giới góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho cộng đồng, nhưng các hoạt động sản xuất công nghiệp (tiêu thụ năng lượng, khai thác khoáng sản, sản xuất hóa chất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm có nguồn gốc cacbonat.) lại phát thải các khí nhà kính góp phần làm gia tăng nồng độ các khí trong khí quyển (387ppm CO2, 1745ppb CH4, 314ppb N2O) hệ quả nhiệt độ trung bình trái đất tăng 0,5 – 0,6 oC. Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, nhiệt độ thế giới đã tăng lên với tốc độ chưa từng có trong vòng ít nhất 12. Chính điều này đã gây nên hiện tượng Trái đất nóng lên trong vòng 30 năm trở lại đây.
Nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6 ± 0,2 °C (1,1 ± 0,4 °F) do việc tích lũy các chất CH4, N2O, 2 Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại thành phố Hồ Chí Minh HFCs, PFCs, SF6 và nhất là CO2, - sản phẩm sinh sinh ra từ các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên kể từ giữa thế kỷ 20. Chưa dừng lại ở đó theo báo cáo được tóm tắt trong báo cáo gần đây nhất của IPCC chỉ ra rằng nhiệt độ bề mặt Trái Đất sẽ có thể tăng 1,1 đến 6,4 °C (2,0 đến 11,5 °F) trong suốt thế kỷ 21 [1].1: so sánh nhiệt độ mặt đất trung bình thời gian 1999-2008 so với nhiệt độ trung bình 1940-1980 [1]. Các nghiên cứu mới nhất của viên khoa học Khí Hậu Thủy Văn và Môi Trường dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu của IPCC trên phạm vi toàn cầu và trên khu vực Đông Nam Á cho thấy: nhiệt độ Việt Nam sẽ tăng khoảng 0,3 – 0,50C vào năm 2010; 1- 20C vào năm 2050 và 1,5 – 2,50C vào năm 2070, thời kỳ có nhiệt độ tăng nhanh nhất trong năm là các tháng 3, 4 và 5. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm thường vượt quá 20oC, lượng mưa trung bình 1500mm. Mùa lạnh và khô từ tháng 11-4, còn mùa nóng và mưa diễn ra từ tháng 5-10. Tuy nhiên các chỉ số này thay đổi theo chiều dài đất nước và theo cả địa hình cho nên mùa mưa với lũ lụt và mùa khô với hạn hán thưòng gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đến tài sản và tính mạng của người 3 Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại thành phố Hồ Chí Minh dân. Trung bình mỗi năm có 6-7 trận bão hay áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến vùng bờ biển của Việt Nam Nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam cho thấy, từ năm Từ 1900 đến 2000, nhiệt độ trung bình năm tăng 0.1°C một thập kỷ.
Mùa hè nóng hơn với nhiệt độ trung bình các tháng hè tăng từ 0.3°C một thập kỷ. Nếu so với năm 1990, nhiệt độ chắc sẽ tăng trong khoảng từ 1.5°C vào năm 2050 và từ 2. Điều này cho thấy xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại lớn lên. Mùa nóng sẽ khắc nghiệt, và lượng mưa cùng với cường độ mưa sẽ tăng lên đáng kể ở phía Bắc.
Sự biến đổi thất thường của thời tiết còn được thể hiện qua đợt mưa lớn trái mùa tại các tỉnh , đặc biệt là Miền Bắc và miền Trung. Nhiệt độ tăng sẽ dẫn đến hiện tượng băng tan ở 2 cực, băng tan tại hai cực làm nước biển dâng cao, dẫn đến nguy cơ mất đi vĩnh viễn của những đảo quốc có độ cao xấp xỉ mực nước biển và những vùng đất thấp ven biển. Khi băng tan, sẽ lộ ra các vùng đất hoặc nước. Các vùng này có độ phản xạ trung bình thấp hơn băng và sẽ hấp thụ nhiều bức xạ mặt trời hơn, làm ấm hơn và cứ thể chu trình này sẽ tiếp diễn.
Nếu mực nước biển dâng cao 10m sẽ có 5,2 triệu km2 đất bị ngập trên toàn thế giới, gần 400 triệu người chịu ảnh hưởng, 2.570 tỷ USD bị thiệt hại và 500.000 km2 đất ven biển (tức là 10% diện tích đất bị ngập) sẽ bị phá hủy do xói mòn [2]. Đứng trước bối cảnh như vậy vào ngày 09/05/1992 Công ước khung về biến đổi khí hậu liên hợp quốc (UFCCC) được ký kết nhằm mục tiêu ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu và tháng 12/1997 Nghị định thư Kyoto ký kết đưa ra cam kết giảm lượng phát thải khí nhà kính thấp hơn mức phát thải so với năm 1990. Theo dự báo của Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), ở Việt Nam mực nước biển sẽ dâng cao từ 3 đến 15 cm năm 2010 và từ 15 đến 90 cm vào năm 2070. Theo đó 10,8% người dân Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống (gấp khoảng 3 lần nước bị ảnh lớn thứ 4 Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại thành phố Hồ Chí Minh hai tại Châu Á) và là quốc gia có tỷ lệ bị ảnh hưởng lớn nhất trong 84 nước đang phát triển, khoảng 40.000 km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm.
Miền Trung Việt Nam là khu vực hay bị thiên tai nhất ở Việt Nam và có tỷ lệ nghèo cao. Hàng năm, khu vực này phải đương đầu với mọi loại hình thiên tai, đặc biệt là lũ lụt. Chỉ riêng trận lụt lịch sử diễn ra vào cuối năm 1999 đã cướp đi 800 sinh mạng và gây thiệt hại hơn 300 triệu USD.HCM sẽ có tới 43% diện tích bị ngập. Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ là vùng bị tác động nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu với 12.376 km đất và 5 triệu người dân trong 12 tỉnh sẽ bị ảnh hưởng nếu mực nước biển dâng 1 m và 43,3% diện tích đất Sóc Trăng sẽ bị ngập, vựa lúa cả nước với hơn 1.5 triệu ha đất nhiễm mặn, chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất.2 cho ta thấy rõ vùng màu xanh đậm là vùng có độ cao 1m trên mặt nước biển có thể bị ngập khi mực nước biển dâng cao 1 m.
5 Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại thành phố Hồ Chí Minh Hình 1.2: diện tích đất của Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ là vùng bị tác động nhiều nhất khi nước biển dâng cao 1m (vùng có màu xanh đậm) [3]. Báo cáo của Phòng tài nguyên môi trường tỉnh Sóc Trăng cũng đưa ra bảng so sánh về sự tăng đột biến của các KNK tính từ cuộc “Cách Mạng Công Nghiệp” năm 1750.