Chương 1 trình bày khái quát những vấn đề cơ sở cho việc thực hiện Luận văn, bao gồm: tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu đề tài, nội dung và phương pháp nghiên cứu, phạm vi và ý nghĩa của đề tài. Chương 2 trình bày các tổng quan về Biến đổi Khí hậu và các nghiên cứu về phát thải Khí nhà kính trên thế giới và tại Việt Nam. Khái quát về hiện trạng của ngành chế biến gỗ tại tỉnh Bình Dương được trình trong. Các kết quả tính toán, đánh giá mức phát thải khí nhà kính được trình bày chi tiết tại Chương 3.
Một số giải pháp được đề xuất nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính đối với ngành chế biến gỗ tại Bình Dương được trình trong Chương 4. Cuối cùng, một số kết luận và kiến nghị từ kết quả nghiên cứu của đề tài trình bày tóm tắt trong phần Kết luận và Kiến nghị.1 Tổng quan về Biến đổi Khí hậu và Khí nhà kính Biến đổi Khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Các biểu hiện của BĐKH bao gồm nhiệt độ trung bình tăng cao trên phạm vi toàn cầu, lượng mưa thay đổi thất thường, băng tan ở 2 cực qua đó làm mực nươc biển trung bình dâng cao trên toàn cầu.1 Thực trạng biến đổi khí hậu trên thế giới Các số liệu quan trắc trên thế giới đều cho thấy nhiệt độ trung bình toàn cầu đang tăng và các kỷ lục về nhiệt độ nóng nhất của trái đất liên tục bị phá vỡ qua các năm kể từ thời kỳ tiền công nghiệp cho đến nay.
Theo báo cáo của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), BĐKH vẫn tiếp tục hoành hành dữ dội và năm 2020 đã trở thành một trong ba năm nóng nhất từng được ghi nhận. 2011-2020 là thập kỷ có nhiệt độ cao nhất được ghi nhận, với sáu năm nóng nhất đều từ sau năm 2015. Cả năm cơ sở dữ liệu (HadCRUT, NOAA Global Temp, GISTEMP, ERA-5, JRA-55) hiện đều đang xếp năm 2020 là năm nóng thứ 2 tính tới nay, xếp sau năm 2016 và xếp trước năm 2019. Tuy nhiên, mức chênh lệch giữa ba năm nóng nhất này là rất nhỏ và thứ hạng chính xác trong mỗi cơ sở dữ liệu có thể thay đổi khi dữ liệu của cả năm được thu thập đầy đủ (dữ liệu 2020 được tính từ tháng 1 đến tháng 10) (WMO, 2020).
“Nhiệt độ trung bình toàn cầu vào năm 2020 được dự đoán sẽ cao hơn khoảng 1,2°C so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900),” theo Tổng thư ký WMO, “Hiện nay có khoảng 20% khả năng là con số này sẽ tạm thời vượt mức 1,5°C vào năm 2024.” 7 Nhiệt độ đại dương đang ở mức kỷ lục và hơn 80% đại dương trên thế giới đều từng hứng chịu một đợt sóng nhiệt vào một thời điểm nào đó trong năm 2020, gây nhiều hậu quả trên diện rộng lên các hệ sinh thái biển vốn đã phải chịu môi trường nước nhiều axit hơn do hấp thụ CO2.1 Sự khác biệt của nhiệt độ trung bình toàn cầu kể từ thời kì tiền công nghiệp (1850-1900). Nguồn : WMO, 2020 Kể từ giữa những năm 1980, Bắc Cực đã nóng nhanh hơn ít nhất hai lần so với tốc độ tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu, khiến diện tích băng biển mùa hè Bắc Cực tiếp tục xu hướng bị thu hẹp, gây ảnh hưởng đến khí hậu ở các vùng vĩ độ trung bình. Nhiệt độ đại dương năm 2019 được ghi nhận là cao nhất trong cơ sở dữ liệu từ năm 1960. Hiện đã có một tín hiệu rõ ràng cho thấy tình trạng hấp thụ nhiệt đang nhanh hơn trong những thập kỷ gần đây.
Hơn 90% năng lượng dư thừa tích tụ trong hệ thống khí quyển do nồng độ khí nhà kính tăng lên sẽ đi vào đại dương. Băng biển ở Bắc Cực chạm mức thấp nhất hàng năm vào tháng 9/2020, là mức thấp thứ hai theo ghi nhận vệ tinh trong 42 năm. Băng biển ở Biển Laptev đặc biệt thấp trong suốt mùa xuân, mùa hè và mùa thu vừa qua, và tuyến đường biển phía Bắc ở trình trạng không 8 có băng hoặc gần không có băng từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2020. Băng ở Nam Cực năm 2020 gần bằng hoặc cao hơn một chút so với mức trung bình 42 năm.
Tính trung bình, kể từ đầu năm 1993, tốc độ dâng trung bình theo độ cao của mực nước biển toàn cầu lên tới 3,3 ± 0,3 mm/năm. Tỷ lệ cũng đã tăng lên trong khoảng thời gian này. Băng tan diện rộng ở các tảng băng lớn là nguyên nhân chính đẩy nhanh tốc độ dâng của mực nước biển trung bình toàn cầu. Mực nước biển trung bình toàn cầu năm 2020 tương đương năm 2019 và thống nhất với xu hướng lâu dài.
Các hiện tượng La Nina đã giúp giảm nhẹ mực nước biển dâng toàn cầu, tương tự như mức giảm tạm thời đi kèm với đợt La Nina trước đó (WMO, 2020) 2.2 Thực trạng biến đổi khí hậu tại Việt Nam Trong những năm qua, hậu quả và tác động của BĐKH ở Việt Nam vẫn tiếp tục diễn biến theo xu thế đã được nhận định trong NDC. Các hiện tượng khí hậu cực đoan tiếp tục được ghi nhận với cường độ mạnh hơn và tần suất cao hơn. Trong thời kỳ 1958-2018, nhiệt độ trung bình năm trên cả nước tăng khoảng 0,89oC; Lượng mưa năm giảm ở các khu vực phía Bắc (từ 5,8% đến 12,5%), tăng ở các khu vực phía Nam (từ 6,9% đến 19,8%); số lượng các cơn bão mạnh tăng; nhiệt độ ngày cao nhất và thấp nhất tăng; số ngày nóng tăng ở hầu hết các khu vực; hạn hán tăng trên phạm vi toàn quốc; số ngày rét đậm, rét hại giảm; mưa cực đoan tăng; mực nước biển trung bình của các trạm ven biển và hải đảo tăng 2,45mm/năm, riêng giai đoạn 1993-2014 tăng 3,34mm/năm. Theo Kịch bản BĐKH và nước biển dâng phiên bản năm 2016, đến năm 2100 nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam có thể tăng từ 0,6oC đến 4oC; lượng mưa có xu hướng tăng tập trung vào mùa mưa và giảm vào mùa khô; NBD từ 36cm đến 107cm thay đổi theo kịch bản và vị trí địa lý (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020).3 Tổng quan về Khí nhà kính Khí nhà kính (KNK) là những thành phần khí của bầu khí quyển có nguồn gốc cả trong tự nhiên và nhân tạo, chúng có khả năng hấp thụ và phát xạ ở các bước sóng cụ thể trong phổ bức xạ hồng ngoại nhiệt do bề mặt Trái đất, bầu khí quyển và các đám 9 mây phát ra.
Tính chất này gây ra hiệu ứng nhà kính. Hơi nước (H2O), carbon dioxide (CO2), Nitrous oxide (N2O), methane (CH4) và ozone (O3) là những khí nhà kính chính trong bầu khí quyển của Trái đất. Ngoài ra, có một số khí nhà kính hoàn toàn do con người tạo ra trong khí quyển, chẳng hạn như halocarbons và các chất có chứa clo và brom khác, được quy định theo Nghị định thư Montreal. Bên cạnh CO2, N2O và CH4, Nghị định thư Kyoto đề cập đến các khí nhà kính lưu huỳnh hexafluoride (SF6), hydrofluorocarbon (HFCs) và perfluorocarbon (PFCs) (IPCC, 2007).
Tuy các khí nhà kính tự nhiên chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nhưng có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất. Trước hết, các khí nhà kính không hấp thụ bức xạ sóng ngắn của mặt trời chiếu xuống trái đất, nhưng hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra và phản xạ một phần lượng bức xạ này trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Các loại khí nhà kính khác nhau có khả năng hấp thụ bức xạ và thời gian chúng có thể tồn tại trong bầu khí quyển khác nhau. Khi so sánh các loại khí nhà kính, chúng ta cần nghĩ đến 2 yếu tố sau: (1) khả năng hấp thụ năng lượng của chúng, (2) chúng tồn tại trong khí quyển bao lâu.
Hệ số GWP (Global Warming Potential) đã được phát triển cho phép so sánh tác động nóng lên toàn cầu của các loại KNK khác nhau. Nó đo lường năng lượng khí thải của 1 tấn KNK sẽ được hấp thụ trong một khoảng thời gian nhất định so với sự phát thải của 1 tấn khí CO2. GWP càng lớn, thì khả gây nóng lên toàn cầu của khí đó càng cao so với CO2 trong khoảng thời gian đó. Khoảng thời gian thường được sử dụng cho GWP là 100 năm.
GWP cung cấp một đơn vị đo lường chung, cho phép các nhà phân tích bổ sung các ước tính phát thải của các loại khí khác nhau (ví dụ, để tổng hợp một kiểm kê KNK quốc gia) và cho phép các nhà hoạch định chính sách so sánh các cơ hội giảm phát thải giữa các ngành và các loại khí. 10 • Theo định nghĩa, CO2 có GWP là 1 bất kể được sử dụng trong khoảng thời gian nào, vì nó là khí được sử dụng làm tham chiếu. CO2 tồn tại trong hệ thống khí hậu trong một thời gian rất dài: sự phát thải CO2 gây ra sự gia tăng nồng độ CO2 trong khí quyển và kéo dài hàng nghìn năm. • Khí Methane (CH4) được ước tính có GWP từ 28–36 trong hơn 100 năm.
CH4 phát thải ngày nay kéo dài trung bình khoảng một thập kỷ, ít hơn nhiều so với CO2. Nhưng CH4 cũng hấp thụ nhiều năng lượng hơn CO2. Tác động thực tế của thời gian tồn tại ngắn hơn và khả năng hấp thụ năng lượng cao hơn được phản ánh qua GWP. CH4 GWP cũng gây ra một số tác động gián tiếp, chẳng hạn như thực tế CH4 là tiền chất của Ozone, và chính ozone cũng là một khí nhà kính.
• N2O có GWP gấp 265–298 lần so với CO2 trong khoảng thời gian 100 năm. N2O phát thải ngày nay trung bình vẫn tồn tại trong khí quyển hơn 100 năm. Hiệu ứng nhà kính được định nghĩa là hiệu quả giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển nhờ sự hấp thụ và phát xạ trở lại bức xạ sóng dài từ mặt đất bởi mây và các khí nhà kính làm giảm lượng nhiệt thoát ra không trung từ hệ thống trái đất, giữ nhiệt một cách tự nhiên, duy trì nhiệt độ trái đất cao hơn khoảng 30oC so với khi không có các chất khí đó (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).