Chương 1 của luận văn sẽ trình bày tổng quan về Biến đổi Khí hậu và Khí nhà kính trong và ngoài nƣớc, tổng quan về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu; phát thải Khí nhà kính trong lĩnh vực xử lý chất thải (chất thải rắn và nƣớc thải); tổng quan về các phƣơng pháp xử lý chất thải. Chương 2 của luận văn sẽ trình bày phƣơng pháp nghiên cƣu; Chương 3 của luận văn sẽ trình bày về kết quả thu đƣợc từ quá trình tính toán phát thải Khí nhà kính từ lĩnh 5 vực xử lý chất thải nhờ các công cụ tính toán nhƣ: LandGem, Excel,. Trên cơ sở phát thải Khí nhà kính ở từng phƣơng pháp xử lý chất thải đề các giải pháp qui hoạch, kỹ thuật và quản lý nhằm đạt mục tiêu giảm phát thải Khí nhà kính. Cuối cùng, một số kết luận và kiến nghị từ kết quả của đề tài luận văn sẽ trình bày trong phần KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ.
6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 Tổng quan về Biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi về trạng thái của khí hậu có thể đƣợc nhận dạng và xác định (ví dụ bằng phƣơng pháp thống kê) thông qua các thay đổi về giá trị trung bình hay những dao động về đặc tính của khí hậu; những thay đổi này diễn ra và kéo dài trong thời gian từ vài thập kỷ hoặc lâu hơn (IPCC, 2007). Biến đổi khí hậu cũng đƣợc hiểu rằng bất kỳ sự thay đổi nào của hệ thống khí hậu theo thời gian do các dao động tự nhiên hoặc do hoạt động của con ngƣời gây ra. Từ cuối thế kỷ XX nhiều nghiên cứu về hiệu ứng nhà kính, sự nóng lên toàn cầu và những dấu hiệu của BĐKH đã đƣợc tiến hành tìm hiểu và đánh giá. Qua đó cho thấy, ảnh hƣởng của con ngƣời lên các hệ thống khí hậu ngày càng rõ ràng.
Điều này biểu hiện qua nồng độ khí nhà kính (KNK) trong khí quyển gia tăng, cƣỡng bức bức xạ gia tăng, sự ấm lên có thể quan sát đƣợc. Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2013, từ năm 2000 đến năm 2010 tốc độ tăng trƣởng trung bình hàng năm KNK là 2,2% mỗi năm so với năm 1970-2000 là 1,3 % mỗi năm. Nồng độ của carbon dioxide, methane và nitrous oxide trong không khí đã tăng lên mức chƣa từng thấy trong ít nhất là 800. Nồng độ carbon dioxide đã tăng 40% kể từ thời tiền công nghiệp, chủ yếu là phát thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch và kế đến là do rừng bị tàn phá để lấy đất dùng vào việc khác.
Các đại dƣơng đã hấp thụ khoảng 30% lƣợng khí carbon dioxide do con ngƣời thải ra, gây ra hiện tƣợng axit hóa đại dƣơng (IPCC, 2013).1: Nồng độ CO2 trong khí quyển (Nguồn: IPCC, 2013) 7 Lƣợng khí thải CO2 tích lũy gây ra sự ấm lên trên phần lớn bề mặt trái đất vào cuối thế kỷ 21 và lâu hơn nữa. Hầu hết các vấn đề của biến đổi khí hậu sẽ vẫn tồn tại trong nhiều thế kỷ, ngay cả khi lƣợng khí thải CO2 không tiếp tục gia tăng. Điều này cho thấy lƣợng khí thải CO2 trong không khí là thủ phạm chủ yếu gây ra BĐKH kéo dài nhiều thế kỷ từ quá khứ đến hiện tại và tƣơng lai. Các đặc trƣng của kịch bản RCP và so sánh giữa các kịch bản RCP và các kịch bản SRES đƣợc trình bày trong bảng sau: Bảng 1.1: Đặc trƣng các kịch bản, mức tăng nhiệt độ so với thời kỳ tiền công nghiệp Nồng độ Tăng nhiệt độ Bức xạ Đặc điểm đƣờng Kịch bản CO2td toàn cầu (0C) vào tác động phân bố cƣỡng SRES năm năm 2100 so với RCP năm bức bức xạ tới tƣơng 2100 thời kỳ cơ sở 2100 năm 2100 đƣơng (ppm) (1986-2005) RCP8.5 8,5 W/m2 1370 4,9 Tăng liên tục A1F1 Tăng dần rồi ổn RCP6.0 6,0 W/m2 850 3,0 B2 định Tăng dần rồi ổn RCP4.5 4,5 W/m2 650 2,4 B1 định Không có 2 Đạt cự đại 3,0 RCP2.6 2,6 W/m 490 1,5 tƣơng W/m2 rồi giảm đƣơng Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016 8 Hình 1.2: Thay đổi của bức xạ tác động (Nguồn: IPCC, 2013) Sự nóng lên toàn cầu là rất rõ ràng với những biểu hiện của sự tăng nhiệt độ không khí và đại dƣơng, sự tan băng diện rộng và qua đó làm tăng mực nƣớc biển trung bình toàn cầu.
Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các vĩ độ cực Bắc. Trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ nào trƣớc đó kể từ năm 1850. Ở Bắc bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến 2012 là khoảng thời gian 30 năm ấm nhất trong 1.3: Diễn biến nhiệt độ trung bình toàn cầu (Nguồn: IPCC, 2013) Theo báo cáo của WMO, năm 2010 là năm nóng nhất trong lịch sử, với mức độ tƣơng tự nhƣ các năm 1998 và 2005. Ngoài ra, trong 10 năm qua tính từ năm 2001, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã cao hơn nửa độ so với giai đoạn 1961-1990, mức cao nhất từng đƣợc ghi nhận đối với bất kì một giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc.
Trong thế kỷ 20 cùng với sự tăng lên của nhiệt độ mặt đất có sự suy giảm khối lƣợng băng trên phạm vi toàn cầu. Từ năm 1978 đến nay, lƣợng băng trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dƣơng giảm khoảng 2,1-3,3% mỗi thập kỷ (IPCC, 2007). Sự nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng đƣợc minh chứng thông qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nƣớc biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nƣớc biển trung bình toàn cầu (IPCC, 2007). Mực nƣớc biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do có sự đóng góp của: (a) hiện tƣợng giãn nở nhiệt của đại dƣơng; (b) tan băng ở Greenland, Nam Cực và các khu vực khác; (c) thay đổi khả năng giữ nƣớc ở đất liền.
Trong các nhân tố này, hiện tƣợng nở vì nhiệt của đại dƣơng đã từng đƣợc xem là nhân tố chủ yếu dẫn đến sự dâng lên của mực nƣớc biển.4: Xu hƣớng gia tăng mực nƣớc biển trung bình toàn cầu (Nguồn: IPCC, 2013) Tác động của BĐKH liên quan đến các nhân tố khí hậu của một khu vực, vùng, quốc gia hoặc toàn cầu và hệ quả liên quan đến các đối tƣợng tài nguyên và môi trƣờng. Các tác động của BĐKH rất rộng và phức tạp, trong đó các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và con ngƣời có mối liên hệ phức tạp, đan xen với nhau nhƣ: tài nguyên nƣớc, nông nghiệp, công nghiệp, thực phẩm, sức khỏe, giao thông và qui hoạch đô thị,. đƣợc trình bày trong tại hình sau: 11 Hình 1.5: Hệ quả và tác động của biến đổi khí hậu (Nguồn: World Bank, 2008) 1.2 Thực trạng Biến đổi Khí hậu trên thế giới Kết thúc năm 2020, hàng loạt các tổ chức quốc tế đã công bố những con số đầy bất an về tình hình biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Một báo cáo thƣờng niên công bố vào tháng 12/2020 vừa qua của Dự án carbon toàn cầu (GCP) cho biết, năm 2020, ƣớc tính tổng lƣợng phát thải khí carbonic (CO2) trên toàn thế giới giảm 2,4 tỉ tấn so với năm 2019, tƣơng đƣơng mức giảm kỷ lục 7%.
Lƣợng phát thải CO2 giảm đáng kể ở các quốc gia và khu vực phát thải nhiều nhất thế giới nhƣ: Mỹ giảm 12%, Liên minh châu Âu (EU) giảm 11%, Ấn Độ giảm 9%. Giới phân tích cho rằng, lƣợng phát thải CO2 giảm là do chính phủ nhiều nƣớc áp đặt lệnh phong tỏa, thực hiện giãn cách xã hội và hạn chế đi lại trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 xuất hiện. Tuy nhiên, do thời gian tồn tại lâu dài của CO2 trong khí quyển dẫn tới sự gia tăng nồng độ khí nhà kính, khiến nền nhiệt toàn cầu không ngừng tăng lên. Theo Báo cáo Tình trạng khí hậu toàn cầu năm 2020 của Tổ chức Khí tƣợng Thế giới (WMO) công bố vào tháng 12/2020, nhiệt độ trung bình toàn cầu trong năm vừa qua cao hơn khoảng 1,2°C so thời kỳ tiền công nghiệp (giai đoạn 1850-1900).
Mức tăng này cũng 12 tƣơng tự với con số công bố vào đầu tháng 01/2021 của Cơ quan Theo dõi biến đổi khí hậu của Liên minh châu Âu (EU - C3S). Với mức nền nhiệt đó, năm 2020 trở thành một trong 3 năm nóng nhất từng đƣợc ghi nhận trên Trái đất trong lịch sử và cũng khép lại một thập kỷ có nhiệt độ cao kỷ lục do tác động của biến đổi khí hậu. Sự ấm lên của trái đất đƣợc ghi nhận đáng chú ý nhất ở khu vực Bắc Á, đặc biệt là Bắc Cực. Vào ngày 20/6/2020, nhiệt độ ở Thị trấn Verkhoyansk (thuộc Siberia, Nga, nơi đƣợc biết đến với cái lạnh cực độ) đã tăng vọt lên mức 38,0°C, đánh dấu nhiệt độ nóng nhất từng đƣợc ghi nhận ở phía Bắc vòng Bắc Cực.
Nhiệt độ tăng lên đã khiến cho băng biển ở khu vực Bắc Cực tiếp tục tan chảy. Viện Khí tƣợng Đan Mạch ghi nhận diện tích băng biển tại Bắc Cực trong tháng 10/2020 ở mức thấp kỷ lục trong ít nhất 40 năm qua, đạt 6,5 triệu km2 do nƣớc biển ấm bất thƣờng. Trong năm 2020, khối băng lớn thứ 2 thế giới là Greenland cũng đã mất đi 152 tỷ tấn băng do hiện tƣợng tan chảy. Đây là những nguyên nhân chính làm gia tăng mực nƣớc biển toàn cầu trong những năm gần đây.
Báo cáo dựa trên các dữ liệu vệ tinh cũng cho thấy, nhiều khu vực có nền nhiệt cao vƣợt qua mức nhiệt trung bình toàn cầu năm 2020 do phải trải qua những đợt nắng nóng, hạn hán và cháy rừng. Ví dụ nhƣ vào tháng 8/2020, mức nhiệt ghi nhận tại Thung lũng Chết ở sa mạc Mojave (bang California, Mỹ) đã có thời điểm lên đến 54,4°C, nhiệt độ cao nhất đƣợc biết đến trên thế giới trong ít nhất 80 năm qua. Hay nhƣ tại châu Âu, sau khi trải qua một mùa Thu và Đông ấm bất thƣờng cùng những đợt hạn hạn, nắng nóng, châu lục này đã xác nhận 2020 là năm nóng nhất trong lịch sử khu vực, với nhiệt độ trung bình cả năm cao hơn 2,2°C so với mức tiền công nghiệp và hơn gần 0,5°C so với năm 2019, năm từng đƣợc xem là năm nóng nhất tại "Lục địa Già".