CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE CHUNG LIÊN QUAN DEN PHA HUY TANG ÔZÔN 1.1 Một số khái niệm cơ ban 1.1 Khải niệm công nghệ Trong lịch sử xã hội loài người, khái niệm công nghệ được hình thành từ khá lâu và được sử dụng khá phô biến, đã có nhiều tác giả đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ. Có thé nêu ra một số khái niệm điển hình sau đây: - Theo tác giả R.Jones, năm 1970 cho rằng, công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyền thành hàng hoá.Baranson, năm 1976 đưa ra: Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/ và các kỹ thuật chế biến cần thiết đề sản xuất ra các vật liệu, cầu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.Dunning, năm 1982, công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm va dịch vu đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới.Strunk, năm 1986 cho rằng: Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp. Công nghệ là kiến thức có sẵn trong óc con người không phải là hàng hoá. - Theo tác giả Graham, năm 1988 cho rằng: Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ.
Một số tổ chức quốc tế đã đưa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau. - Tổ chức PRODEC năm 1982 cho rằng: Công nghệ là một loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chê biên và dịch vụ. 6 Học viên: Nguyễn Long Hưng mu Luận văn Thạc sỹ OL KH&CN - Trước đó, năm 1972, Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cho rằng: Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất. Nó được mua bán trên thị trường như một hàng hoá.
- Theo tô chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) thi công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp. - Ngân hàng Thế giới năm 1985 đưa ra định nghĩa: Công nghệ là phương pháp chuyên hoá các nguồn thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: + Thông tin về phương pháp. + Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp dé thực hiện việc chuyên hoá. + Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thé nao và tại sao? Trên cơ sở tập hợp và khái quát các định nghĩa về công nghệ nêu trên, tác giả Trần Ngọc Ca, năm 1987 đã đưa ra một khái niệm hợp lý về công nghệ như sau: Công nghệ có thé được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phan cứng) và một số tiềm năng khác (tô chức, pháp chế, dich vụ.) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ.
- Theo Luật chuyên giao công nghệ, năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản phẩm '. - - Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2000 đã đưa ra định nghĩa khái quát: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm 3.2 Đặc điểm công nghệ Bat kỳ một công nghệ nao cũng có 5 đặc điểm cơ bản là: ' Luật Chuyên giao công nghệ, số 80/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 ? Luật Khoa học và Công nghệ, số 21/2000/QH10 ngày 9 tháng 6 năm 2000 7 Học viên: Nguyễn Long Hưng mu Luận văn Thạc sỹ OL KH&CN - Công nghệ trước hết là khoa học “Làm” tức là hệ thống tri thức về các giải pháp hành động, khác với khoa học “Hiêu”. na - Công nghệ hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm. - Công nghệ tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm.
Nó ton tại và phát triển qua các giai đoạn: Ra đời - Tăng trưởng - Thịnh vượng - Bão hoà - Tiêu vong. - Sản phẩm của công nghệ được xác định trước theo thiết kế. - Hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao, trên cơ sở một quy trình đã được nhà chế tạo chuẩn hoá và được người sản xuất làm chủ.2 Đổi mới công nghệ 1.1 Khái niệm đổi mới công nghệ Chúng ta có thể hiểu đổi mới (Innovation) nói chung là việc tao ra và phát triển một ý tưởng nào đó và đưa nó vào áp dụng trong cuộc sống. Trong khoa học có thê nói đổi mới là quá trình thương mại hoá thành công một sáng chế.
Đồi mới là quá trình tìm kiếm, tiếp thu va sử dụng tri thức nên không thé là một việc chốc lát. Thành công không chỉ được đo bằng một đổi mới thành công mà bằng cả một chuỗi các đổi mới. Trên thế giới, theo định nghĩa của Tổ chức Hop tác và Phát triển Kinh tế (OECD): Đổi mới công nghệ của sản phẩm và quy trình (technological product and process innovations) bao gồm các sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ đã được thực hiện và những cải tiến công nghệ trong các sản phẩm và quy trình đó. Như vậy, đổi mới công nghệ liên quan đến hàng loạt hoạt động, cả về khoa học, công nghệ, lẫn về tô chức, tài chính và thương mại.
Khái niệm đổi mới công nghệ được đưa ra như sau: “Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thé phan quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng băng một công nghệ khác tiễn tiến hơn, hiệu quả hơn”. Theo nhà kinh tế học người Áo J.Schumpeter, có 5 trường hợp đổi 8 Học viên: Nguyễn Long Hưng mu Luận văn Thạc sỹ OL KH&CN a. Duara sản phẩm mới b. Đưa ra phương pháp sản xuất và thương mại hóa mới c.
_ Chinh phục thị trường mới d. Sw dụng nguồn nguyên liệu mới e. _ Tổ chức mới don vị SX 1.2 Các nhân to ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ a. Thị trường Những nền kinh tế thị trường có thé có lợi thé trong quá trình đổi mới.
Nếu thị trường của một loại sản phẩm nào đó được mở rộng thì điều này sẽ thúc đây đổi mới. Đổi mới chỉ thực sự hoàn thành sau khi sản pham hay qua trình được người tiêu dùng chấp nhận, do vậy một khía cạnh rất quan trọng của đổi mới là marketing. Nhu cầu Phần lớn các trường hợp đổi mới công nghệ xuất phát từ nhu cầu. Có thê là do áp lực của môi trường kinh doanh (các yếu tố vĩ mô như chính trị, xã hội, kinh tế, công nghệ.) làm xuất hiện nhu cầu, Ví dụ: do áp lực của toàn thé giới về van dé ô nhiễm môi trường gây thủng tang ôzôn, các nhà sản xuất phương tiện phòng cháy chữa cháy nỗ lực nghiên cứu dé chế tạo ra những chất chữa cháy tốt mà không làm thủng tầng ôzôn.
Nhu cầu của người tiêu dùng cũng thúc đây đôi mới. Hoạt động R&D R&D là khâu quan trọng trong quá trình đổi mới. Báo cáo về năng lực cạnh tranh của châu Âu nêu rõ: "Nếu không có cơ sở nghiên cứu khoa học mạnh và đa dạng thì sẽ không hề có bất kỳ một sự cất cánh công nghệ nào cả". Các doanh nghiệp có ngân sách R&D lớn và nguồn nhân lực R&D có kỹ năng nghiên cứu sẽ thuận lợi trong đổi mới công nghệ.
Cạnh tranh Nói chung, cạnh tranh thúc đây đồi mới. Cac chính sách quôc gia hô trợ đôi mới 9 Học viên: Nguyễn Long Hưng mu Luận văn Thạc sỹ OL KH&CN Như vậy, để khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ sang “chất chữa cháy sạch” thì cần phải có những chính sách phù hợp.3 Khái niệm về suy giảm ôzôn Sự suy giảm tầng ôzôn là hiện tượng giảm lượng ôzôn trong tầng bình lưu. Từ năm 1979 cho đến năm 1990 lượng ôzôn trong tầng bình lưu đã suy giảm vào khoảng 5%. Vì lớp ôzôn ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hại không cho xuyên qua bầu khí quyên Trái đất, do đó sự suy giảm ôzôn đang được quan sát thay và các dự đoán suy giảm trong tương lai đã trở thành một mối quan tâm toàn cầu, dẫn đến việc công nhận Nghị định thư Montreal hạn chế và cuối cùng chấm dirt hoàn toàn việc sử dụng và sản xuất các hợp chất có chứa cacbon của clo và flo (CFC - chlorofluorocacbons) cũng như các chat hóa học gây suy giảm tầng ôzôn khác như tetraclorit cacbon, các hợp chất của brôm (Halon) và methylchloroform.
Sự suy giảm ôzôn thay đổi tùy theo vùng địa lý và tùy theo mùa. Lỗ thủng ôzôn dùng dé chỉ sự suy giảm ôzôn nhất thời hăng năm ở hai cực Trái đất, những nơi ma ôzôn bị suy giảm vào mùa xuân và được tai tao trở lại vào mùa hè. Nồng độ clo tăng cao trong tang bình lưu, xuất phát khi các khí CFC và các khí khác do loài người sản xuất ra có thê bị phân hủy ra clo, chính là nguyên nhân gây ra sự suy giảm này. Các cuộc hội thảo đều cho răng, sự suy giảm tầng ôzôn là vấn đề toàn cầu, nó sẽ tạo điều kiện cho các bức xạ cực tím đến mặt đất nhiều hơn.
Nguyên nhân của việc suy giảm tầng ôzôn chính là do thải các khí CFC vào khí quyền. Cường độ gia tăng của các bức xạ cực tím đang được nghi ngờ chính là nguyên nhân gây ra nhiều hậu quả trong sinh học, ví dụ như gia tăng các khối u ác tính, tiêu hủy các sinh vật phù du trong tang có ánh sáng của bién.4 Khải niệm Halon Halon là các chất sử dụng trong chữa cháy, là một chất phá huỷ tầng ôzôn được quy định tại phụ lục A, nhóm I của Nghị định thu Montreal vé các 10 Học viên: Nguyễn Long Hưng mu Luận văn Thạc sỹ OL KH&CN chat gây phá hủy tang ôzôn. Chat này có tiềm năng phá hủy tang ôzôn (ODS) là 10,6 và 3 tương ứng với các loại halon 1301, 2402 và 1211. Trong các loại Halon thường gặp thì CBrCIF; (Halon 1211), CBrF; (Halon 1301), C2Br.F, (Halon 2402) có chứa flo, clo, brôm có hiệu quả chữa cháy rất cao nhưng lại có khả năng phá huỷ tang ôzôn cao hơn han so với những chất bị kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal.5 Khái niệm “chất chữa cháy sạch ” Là tập hợp các chất sử dụng dé dập tắt đám cháy mà không gây phá huỷ tầng ôzôn.