Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc và sự cần thiết quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007). Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động bằng quyền lực Nhà nước: Sự tác động bằng quyền lực nhà nước là sự tác động bằng pháp luật theo nguyên tác pháp chế. Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương và tính tổ chức rất cao. Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) Quản lý nhà nước về đất đai là nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai và được tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản sau: (1) Nhà nước nắm chắc tình hình đất đai, tức là Nhà nước biết rõ các thông tin chính xác về số lượng đất đai, về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai.
Cụ thể: - Về số lượng đất đai: Nhà nước nắm về diện tích đất đai trong toàn quốc gia, trong từng vùng kinh tế, trong từng đơn vị hành chính các địa phương; nắm rõ diện tích của mỗi loại đất như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng sản xuất, nắm rõ về diện tích của từng chủ sử dụng và sự phân bố trên bề mặt lãnh thổ. 6 - Về chất lượng đất: Nhà nước nắm về đặc điểm lý tính, hóa tính của từng loại đất, độ phì của đất, kết cấu đất, hệ số sử dụng đất. đặc biệt là đối với đất nông nghiệp. - Về hiện trạng sử dụng đất: Nhà nước nắm về thực tế quản lý và sử dụng đất có hiệu quả, có hợp lý không? Có theo đúng quy hoạch và kế hoạch không? (2) Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch và kế hoạch chung thống nhất.
Nhà nước chiếm hữu toàn bộ quỹ đất đai nhưng lại không trực tiếp sử dụng mà giao cho các tổ chức, cá nhân áp dụng. Trong quá trình phát triển của đất nước, ở từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành, các cơ quan, các tổ chức cũng khác nhau. Nhà nước với vai trò chủ quản lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Để thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa các vùng kinh tế.
Hơn nữa, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất. Vì vậy, nhà nước quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai. Đồng thời, Nhà nước còn quản lý việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; quản lý việc chuyển quyền sử dụng đất; quản lý việc lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. (3) Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng đất đai.
Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do người sử dụng cụ thể thực hiện. Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với yêu cầu và lợi ích của Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình phân phối và sử dụng đất. Trong sự kiểm tra, giám sát, nếu phát 7 hiện các vi phạm và bất cập trong phân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi phạm, bất cập đó. (4) Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Hoạt động này được thực hiện thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: thu tiền sử dụng đất (có thể dưới dạng tiền giao đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, có thể dưới dạng tiền thuê đất, có thể dưới dạng tiền chuyển mục đích sử dụng đất), thu các loại thuế liên quan đến việc sử dụng đất (như thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập cao có được từ việc chuyển quyền sử dụng đất.) nhằm điều tiết các nguồn lợi hoặc phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Các mặt hoạt động trên có mối quan hệ trong một thể thống nhất đều nhằm mục đích bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nước về đất đai. Nắm chắc tình hình đất đai là tạo cơ sở khoa học và thực tế cho phân phối đất đai và sử dụng đất đai một cách hợp lý theo quy hoạch, kế hoạch. Kiểm tra, giám sát là củng cố trật tự trong phân phối đất đai và sử dụng đất đai, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước.
Như vậy có thể nói “Quản lý nhà nước về đất đai là hoạt động tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hành vi của các chủ thể tham gia và quan hệ pháp luật đất đai để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai nhằm duy trì và phát triển các quan hệ đất đai theo trật tự pháp luật quy định”. Đặc điểm quản lý nhà nước về đất đai Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai nói riêng, Tài nguyên và Môi trường nói chung được xây dựng thống nhất từ trung ương đến địa phương. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai trên địa 8 bàn theo quy định tại Điều 19 Luật Đất đai năm 2013.
Quản lý nhà nước về đất đai ở cấp huyện có những đặc điểm sau: Về đối tượng quản lý: Quản lý việc sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Về phạm vi quản lý: Quản lý việc sử dụng đất trong địa giới hành chính huyện. Về thẩm quyền: - Quyết định việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. - Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Đối với tổ chức sử dụng đất trên địa bàn, trong quá trình sử dụng đất nếu có hành vi vi phạm thì kiến nghị xử lý theo quy định. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất đai Theo Luật Đất đai năm 2013: “ Đất đai là tài nguyên đặc biệt của Quốc gia, là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý ”. Việc thống nhất quản lý thể hiện từ Trung ương đến địa phương, trong đó quản lý nhà nước về đất đai ở cấp huyện là rất cần thiết nhằm: - Đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả: Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế, bởi vì bất cứ một hoạt động nào dù là kinh tế hay phi kinh tế đều phải được thực hiện trên cơ sở tiết kiệm và hiệu quả.
Đất đai là nguồn lực quan trọng, là điều kiện tồn tại cơ bản của xã hội, mặt khác đất đai có giới hạn về mặt diện tích, trong khi đó nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích ngày càng tăng lên, cho nên đất đai ngày càng trở nên 9 khó khăn và hạn hẹp. Điều này cho thấy ý nghĩa của việc sử dụng đất đai tiết kiệm và hiệu quả. Nguyên tắc này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về đất đai phải làm tốt công tác quy hoạch, phân bổ đất đai phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ phát triển kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó phải quy định cụ thể về chế độ sử dụng các loại đất, đồng thời tổ chức quản lý, giám sát tốt việc sử dụng đất để đảm bảo tính hiệu quả.
Sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường đòi hỏi nhà quản lý phải có chính sách phân phối đất đai hợp lý trên cơ sở tổng quỹ đất của quốc gia và quỹ đất đai của từng địa phương, bảo đảm cho đất đai được sử dụng đúng mục đích, phát huy tối đa các thế mạnh về kinh tế, xã hội với chi phí thấp nhất để đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao nhất. - Đảm bảo tính công bằng trong quản lý và sử dụng đất: Việc phân bổ đất thường chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị trường là tối đa hóa lợi nhuận, do đó chính sách của nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảm bảo sự công bằng. Ngoài ra, chính sách đất đai của nhà nước nhằm tạo điều kiện cho mọi tầng lớp dân cư được tiếp cận với việc sử dụng đất được dễ dàng. Sự công bằng được thể hiện ở việc chính quyền đảm bảo các quyền của người sử dụng đất được nhà nước cho phép, mọi người đều có cơ hội và bình đẳng trước pháp luật về đất đai.
Chính quyền thay mặt cho nhà nước quản lý đất đai và giao đất ổn định, lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân; khuyến khích họ khai thác và sử dụng đất theo hướng có hiệu quả cũng như xử lý nếu sai phạm.