Chương 1. CHÍNH SÁCH VA CONG TAC QUAN LÝ VIỆC THUC THI CHINH SACH CHI TRA DICH VU MOI TRUONG RUNG 1. Cơ sở lý luận về chính sách công và công tác quan lý việc thực thi chính sách công 1. Khái niệm chính sách công Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về chính sách khác nhau.
Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một khái niệm nao thoả đáng về chính sách. Mặc dù vậy, vẫn có một số nội dung cơ bản của khái niệm này được công nhận. Thứ nhất, chính sách là những chiến lược, biện pháp, kế hoạch do chủ thể có quyền lực ban hành và được thực thi bằng các công cụ, nguồn lực có tầm ảnh hưởng. Thứ hai, mọi chính sách đều có mục đích, mục tiêu rõ ràng dé giải quyết van dé nào đó.
Thứ ba, chính sách thường sé tạo ra những sự lựa chọn ưu tiên về đối tượng. Nghĩa là, qua chính sách, sẽ luôn có một nhóm đối tượng được ưu tiên hưởng lợi và một nhóm chịu thiệt thòi. Nếu định nghĩa khái niệm chính sách dựa vào cách tiếp cận [7, tr. 18], thi ba yếu tố này cũng được bộc lộ rõ ràng.
Ví dụ: a) Theo tiếp cận chính trị học thì chính sách là tập hợp biện pháp được đưa ra dé định hướng xã hội bởi một chủ thể quyền lực nhăm thực hiện mục tiêu chính trị [7, tr. 19-20], b) Theo tiếp cận xã hội học thì chính sách là tập hợp biện pháp được đưa ra nhăm tạo lợi thế cho một nhóm xã hội, để thúc đây việc thực hiện một số mục tiêu mà chủ thể quyền lực hướng tới [7, tr. Các định nghĩa về chính sách này cho thấy không rõ ràng nhận ra sự khác biệt giữa chính sách công và chính sách thông thường. Khái niệm này chỉ trở nên khác biệt khi phân tích mục tiêu, đối tượng, phạm vi tác động và chủ thể của chính sách dé phân biệt với chính sách tư.
Tại Việt Nam, nhiều quan niệm cho răng khi đê cập tới khái niệm chính sách là đê cập tới khái niệm chính sách 15 công [11, tr. Chính sách công là chính sách được ban hành bởi Nhà nước, có mục tiêu giải quyết một vấn đề trong xã hội hoặc dé làm cho xã hội tốt đẹp hơn, và có đối tượng ưu tiên là một nhóm xã hội nào đó. Khác biệt với nó, chính sách tư có thé kế đến là chính sách của một tổ chức, doanh nghiệp, công ty nào đó như chính sách khen thưởng của công ty, chính sách phạt khi đi làm mu6n,. do đơn vị đó tự đề ra.
Trong phạm vi bài luận tác gia đề cập tới một chính sách do Nhà nước đề ra — một chính sách công. Hệ thống chính sách hiện nay mang một số đặc trưng chung. Thứ nhất, chính sách phải bao gồm một loạt các quyết định có liên quan với nhau. Nói cách khác nó là một loạt các biện pháp dé giải quyết van đề chính sách, được đưa ra thông qua các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp có thâm quyền.
Vi dụ, năm 2010, Nhà nước đưa ra Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả DVMTR, kéo theo đó là sự ra đời của một loạt các quyết định, thông tư, nghị định, tiêu chuẩn, quy chuẩn hướng dẫn các biện pháp thực hiện chính sách ở các cấp từ trung ương đến địa phương như các quyết định về đối tượng, cách thức thực hiện, thành lập đơn vị thực hiện,. cùng nhằm mục dich dé giải quyết các vấn đề liên quan đã nêu trong chính sách. Thứ hai, mọi chính sách đều bao gồm mục tiêu và biện pháp. Nếu mục tiêu của chính sách dé trả lời câu hỏi dé làm gì thì biện pháp là những phương tiện, công cụ, cách thức dé đạt được mục tiêu đó.
Thứ ba, van đề chính sách là van dé trong xã hội mà chính sách cần phải giải quyết, tầm ảnh hưởng của vấn đề này đối với xã hội có thể nhìn thấy rõ rệt. Thứ tư, chính sách luôn tạo ra sự ưu tiên cho các nhóm đối tượng là các nhóm xã hội. Các nhóm đối tượng của chính sách bao gồm: nhóm được lợi, nhóm chịu thiệt và nhóm vô can [7, tr. Một chính sách công là chính sách được diễn đạt thành văn trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Ở Việt Nam, chính sách công trải qua chu trình khép kín gồm 5 giai đoạn là hoạch định, xây dựng, ban hành, thực hiện và đánh giá. Hoạch định chính 16 sách công là khi một vấn đề xã hội xuất hiện trong chủ trương văn kiện của Đảng, nó là cơ sở cho việc hình thành chính sách. Xây dựng chính sách công là các bên có thâm quyền hiện thực hoá chủ trương ấy thành một chính sách và ban hành chính sách ấy. Thực hiện chính sách công là các cơ quan từ trung ương đến địa phương thực hiện chính sách đã ban hành tuỳ theo nhiệm vụ, chức năng, vị trí và phân công của mình, bao gồm cả việc cấp đưới ban hành những quy định, hướng dẫn phục vụ việc thực hiện chính sách chung.
Cuối cing, sau một thời gian thực hiện và có kết quả, phân tích chính sách công trên cơ sở mục tiêu đề ra, dựa trên nhiều phương pháp và tiêu chí dé dẫn đến quyết định về tính hiệu quả và biện pháp tiếp theo cho chính sách. Thực thi chính sách công là giai đoạn quan trọng và khó khăn bậc nhất trong chu trình chính sách khi toàn bộ những phân tích, dự tính được đưa vào thực tế. Nói cách khác, nó chính là hiện thực hoá chính sách. Thực thi chính sách công là một loạt các hành động cần thiết để làm chính sách có hiệu lực.
Đây được xem như là sự tương tác giữa việc thiết lập các mục tiêu và các hành động nhằm đạt được chúng. Công tác quản lý việc thực thi chính sách công Công tác quản lý việc thực thi chính sách công bao gồm nhiều chức năng như chức năng lập kế hoạch, chức năng tô chức, chức năng lãnh đạo và chức năng kiểm tra. Mỗi chức năng này đều có những vai trò nhất định góp phần mang lại hiệu quả cao nhất cho tô chức hoặc công tác thực thi một công việc nào đó. Công tác quản lý việc thực thi chính sách công cũng mang đầy đủ những thao tác này và có đóng góp quan trọng vào hiệu quả của chính sách.
Công tác quản lý việc thực thi chính sách công có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố, phải ké đến là yêu tố môi trường của chính sách, phương tiện thực thi chính sách, đối tượng thực thi chính sách, và chính bản thân chính sách. Cụ thé Thứ nhất, quá trình này có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh 17 như môi trường pháp lý, môi trường xã hội và môi trường quốc tế [7, tr. Chính sách và môi trường pháp lý có quan hệ tương tác qua lại: chính sách không vượt khỏi những ràng buộc luật pháp và cũng tạo ra sự thay đổi luật pháp. Bởi vậy nếu môi trường pháp lý có mâu thuẫn với chính sách hoặc ngược lại thì chính sách sẽ thất bại.
Bên cạnh đó, môi trường xã hội bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa,. cũng ảnh hưởng đến thực thi chính sách. Cụ thé, xu thé thay đôi của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội cần phù hợp với sự ra đời của chính sách mới. Một chính sách đi ngược lại xu thế xã hội sẽ không nhận được sự ủng hộ của các đối tượng thực thi.
Với nhu cầu hội nhập của mọi quốc gia, việc thực thi chính sách còn bi chi phối bởi môi trường quốc tế. Một chính sách đi ngược lại với những thiết chế, công ước quốc tế sẽ mang đến những xung đột ngoài khuôn khổ quốc gia. Một chính sách tốt không chỉ mang lại lợi ích cho đất nước mình mà phải tránh việc phương hại tới quyền lợi của quốc gia khác. Thứ hai, phương tiện dé thực thi chính sách có day đủ, phù hop và hiệu quả hay không cũng là yếu tố quan trọng.
Phương tiện có tác dụng thúc đây hoặc kìm hãm việc thực hiện mục tiêu chính sách [7, tr. Phương tiện của chính sách có thé bao gồm các nguồn lực, công cụ, phương pháp thực thi. Vi dụ: nguồn nhân lực, vật lực, tin lực,.công cụ pháp lý, công cụ kinh tẾ,. phương pháp thực thi trực tiếp hay gián tiếp thông qua những cơ quan, đơn vị nào,.
Do đó, cần chuẩn bị kinh phí đầy đủ; đảm bảo nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo nguồn thông tin, trang thiết bị, cơ sở vật chất đầy đủ phục vụ việc hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra việc thực thi chính sách sao cho khả thi và phù hợp với thực tế. Thứ ba, chủ thé của chính sách là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quá trình quản lý việc thực thi chính sách. Đặc biệt, trình độ nhận thức, năng lực, phẩm chất, thái độ ủng hộ hoặc không ủng hộ đối với hính sách; cách thức tương tác, điều phối giữa các đối tượng với nhau;. đều quyết định việc thực thi diễn ra nhanh hay chậm, hiệu quả hay không hiệu 18 quả, có phản hồi, điều chỉnh như thé nào,.
Ngoài ra, nếu chính sách có một bộ máy chuyên trách đặc thù trong việc thực hiện thì vấn đề cơ chế tổ chức của bộ máy này cũng vô cùng quan trọng. Năng lực, phâm chat của đối tượng thực thi chính sách càng cao thì sự am hiểu, nam vững chính sách càng lớn, tinh thần đổi mới, sáng tạo, trách nhiệm với công việc sẽ được phát huy, tránh những sai sót, nhằm lẫn trong thực thi. Thái độ ủng hộ, hưởng ứng của các đối tượng không chỉ khiến quá trình thực thi đễ dàng, nhanh chóng mà còn hỗ trợ việc đánh giá mục tiêu của chính sách. Sự ủng hộ càng lớn thì chính sách càng thành công.
Ngược lại, một chính sách vấp phải sự phản đối là một chính sách cần được xem xét, điều chỉnh cho phù hợp. Bên cạnh đó, sự tương tác, điều phối giữa các bên thực hiện chính sách, từ cấp có thâm quyền đến người dân giúp kế hoạch thực thi được triển khai nhanh chóng, hợp tình, hợp lý, được điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết; tránh được những xung đột, chồng chéo. Đối với những chính sách được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách thực thi chính sách với tô chức bộ máy và cơ chế vận hành rõ ràng, quy chuẩn hóa và đồng bộ với tinh thần trách nhiệm cao thì quá trình thực thi càng bài bản, tiêu chuẩn và đồng bộ. Cuối cùng, công tác quản lý việc thực thi chính sách còn bị tác động bởi yếu tố tự thân chính sách.