Chương I: Cơ sở lý luận về việc công nhận va cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của TTKT; - Chương II: Thực trạng pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi tành tại Việt Nam các quyết định của TIKT; - _ Chương II: Hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của TTKT. Kết luận 13 CHUONG I CO SO LY LUAN VE VIEC CONG NHAN VA CHO THI HANH TAI VIET NAM CAC QUYET DINH CUA TRONG TAI KINH TE 1. KHAI NIEM QUYET DINH CUA TRONG TAI KINH TE Việc xác định khái niệm quyết định của TTKT có một ý nghĩa quan trọng trong vấn dé công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của. Điều này xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, trong thực tế có nhiều loại quyết định của trọng tài (mỗi trọng tài có nhiều loại quyết định; có nhiều loại trong tài); thứ hai mỗi một loại quyết định của trọng tài đặt ra vấn dé công nhận và thi hành không giống nhau.
Vì quyết định của trọng tài được đề cập trọng luận án là quyết định của TTKT, cho nên trước hết cần làm sáng tỏ khái niệm TTKT, sau đó sẽ xác định rõ các loại quyết định của trọng tài này. TTKT là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật và trên cơ šở thoả thuận của các bên phù hợp với trật tự pháp luật hiện hành (hoặc pháp uật Việt Nam, hoặc pháp luật nước ngoài) và có thể có các quyết định cần lược xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tế có nhiều loại trọng tài thác nhau như trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể của công ›háp quốc tế (trong tài trong công pháp quốc tế) [37, tr. 190, 199] và trọng tài xiải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng của các quốc nia (trọng tài phi chính phủ) [34, tr.
Cơ sở pháp luật của trọng tài trong inh vực công pháp quốc tế là luật quốc tế. Các tranh chấp được đưa ra trọng ài đó là các tranh chấp giữa các chủ thể của công pháp quốc tế (chủ yếu là ác quốc gia). Do vậy, luận án không đề cập loại quyết định của trọng tài này. ong cũng phải thừa nhận rằng trong một số trường hợp quyết định của trọng ii thuộc lĩnh vực công pháp quốc tế có ảnh hưởng đáng kể tới các quan hệ 14 giữa các cá nhân và pháp nhân thuộc các quốc gia khác nhau - các quan hệ thuộc lĩnh vực xem xét của trọng tài ngoài lĩnh vực công pháp quốc tế.
Như vậy, luận án chỉ đề cập loại trọng tài hoạt động trong lĩnh vực quan hệ kinh tế-thương mại có quyền phán quyết về tranh chấp giữa các chủ thể của pháp luật quốc gia. Vấn dé dat ra là cần xác định rõ khái niệm TTKT, bởi lẽ không phải tất cả các loại trọng tài thuộc lĩnh vực trên đều là TTKT. Luận án dé cập việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT, cho nên các loại trọng tài đó là trọng tài được xác định theo pháp luật Việt Nam (mặc dù chúng có thể được thành lập theo pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế). Đó là các trọng tài của Việt Nam (được thành lập trên cơ sở pháp luật Việt Nam để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh tế- thương mại) và trọng tài nước ngoài có thể có các quyết định mà theo pháp luật Việt Nam (theo các văn bản pháp luật của Việt Nam và các điều`ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia) cần được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
Các trọng tài Việt Nam hiện nay bao gồm các trung tâm TKT được thành lập theo Nghị định số 116/CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TIKT tại Việt Nam ban hành ngày 5-9-1994 (cho đến cuối năm 2000, cả nước có 5 trung tâm TTKT: ở Hà Nội có 2, ở Bắc Giang có 1, ở TP. Hồ Chí Minh có 1, ở Cần Thơ có 1) và TTTTQTVN được thành lập theo Quyết định số 204-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về tổ chức TITTQTVN ngày 28/4/1993. | Trước đây, vào đầu những năm sáu mươi thế kỷ XX, ở nước ta có hai tổ chức trọng tài là Hội đồng Trọng tài Ngoại thương được thành lập theo Nghị định số 59/CP của Chính phủ ngày 30/4/1963 và Hội đồng Trọng tài Hàng hải được thành lập theo Nghị định số 153/CP của Chính phủ ngày 05/10/1964. Hai tổ chức trọng tài này xét về mặt tính chất đều là những tổ chức xã hội- nghề nghiệp có trình tự tố tụng được quy định giống nhau nhưng có thẩm 15 quyền khác nhau.
Việc thành lập TTTTQTVN bên cạnh Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam được tiến hành trên cơ sở hợp nhất hai tổ chức trọng tài này [61, tr. Trong linh vực quan hệ kinh tế trong nước, từ những năm 60 (14/1/1960) ở nước ta, các hội đồng TTKT có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế. Đây là các cơ quan do Chính phủ lập ra mang tính chất quyền lực Nhà nước cho nên chúng không có các đặc điểm vốn có của chế định trọng tài. Chúng thực chất là các cơ quan nhà nước, vừa có chức năng của cơ quan tư pháp (như tòa án), vừa có chức năng của cơ quan hành pháp.
Các tổ chức TTKT thời đó trực tiếp tham gia vào việc quản lý và tổ chức hoạt động kinh tế. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1996, các toà kinh tế được thành lập thạy thế chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế cho các tổ chức trọng tài trên [10, tr. Như vậy, trước khi thành lập các trung tâm TTKT (5/9/1994), ở Việt Nam trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp kinh tế trong nước, không có tổ chức trọng tài nào theỏ đúng nghĩa cuz nó. Sự kết thúc vai trò lịch sử của trọng tài Nhà nước diễn ra đồng thời với quá trình đổi mới trong chính sách kinh tế nhà nước trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Ở các quốc gia trên thế giới, ngoài các trọng tài thường trực kể trên, còn có trọng tài sự vụ (trọng tài ad-hoc) được thành lập trên cơ sở pháp luật và theo thoả thuận của các bên. Điều khác nhau căn bản giữa trọng tài sự vụ và trong tài thường trực là ở chỗ: thit nhất trọng tài thường trực có đội ngũ trọng tài viên định sẵn để các bên lựa chọn (trong khi đó trọng tài sự vụ không có); thứ hai, nếu như trọng tài thường trực có quy tắc để hội đồng trọng tài và các bên tuân thủ (trong một số trường hợp các bên có thể lựa chọn), thì trọng tài sự vụ không có: các bên phải thoả thuận xây dựng trên cơ sở pháp luật (giống như thoả thuận về hợp đồng) [45, tr. Trong một số văn bản pháp luật hiện hành như: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Hàng không Dân 16 jung Việt Nam và một số văn ban pháp luật khác có ghi nhận quyền của các sên lua chọn loại trọng tài sự vụ để giải quyết tranh chấp kinh tế quốc tế. Ví ju, khoản 1 Điều 122 Nghị định của Chính phủ số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy định chỉ tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy jinh: “.
Trong trường hợp hoà giải không thành các bên có thể chọn một rong các phương thức sau đây: a) Toà án Việt Nam; b) Trọng tài Việt Nam 1oặc Trọng tài nước ngoài, Trọng tài quốc tế; c) Trọng tài do các bên thoả huận thành lập”. Tuy nhiên, về mặt lý luận cũng như trong các văn bản pháp .uật chưa có lời giải đáp cho các vấn đề về quy chế loại trọng tài nay. Do vậy, rên thực tế hiện nay ở Việt Nam không có loại trọng tài sự vụ hoạt động [43, r. “Có thể nói, tại Việt Nam chưa có thông lệ giải quyết tranh chấp kinh ế trong nước bằng trọng tài vụ việc” [46, tr.
Trọng tài nước ngoài được coi là TIKT ở đây là các trọng tài được các ›ên thoả thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp có thể hoặc đã phát sinh rên cơ sở phù hợp với pháp luật nước ngoài về trọng tài để giải quyết các ranh chấp trong lĩnh vực kinh tế-thương mại [59, tr. Các tổ chức trọng ài thường trực của nước ngoài như vậy rất đa dạng về thẩm quyền, về thủ tục ố tụng, về quy mô hoạt động. Ví dụ, ở Hồng Kông có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông; ở Thái Lan có Trọng tài Thương mại Thái Lan; ở Ma-lai- sia có Trọng tài dưới sự bảo trợ của Trung tâm Trọng tài Kua-La-Lam-Po, [rung tâm Trọng tài Kua-La-Lăm-Pơ;, ở Sing-ga-po có Trung tâm Trọng tài uốc tế Sing-ga-po; ở Trung Quốc có trọng tài hợp đồng kinh tế,. Mặc dù, :ó những điểm khác nhau nhất định, song các trọng tài thường trực của các ước được coi là TTKT đều có các điểm chung như: - Có bộ phận thường trực; - Có đội ngũ trọng tài viên để các bên lựa chọn; 17 - Có quy tắc tố tụng trọng tài riêng (nhìn chung đều được xác lập dựa -én cơ Sở áp dụng rộng rãi các quy tắc tố tung của Trọng tài UNCITRAL) 51,tr.
16-17]; - Déu là các tổ chức phi chính phủ (không có tính chất quyền lực nhà \ước). Như vậy, khái niệm trọng tài nước ngoài cần được xác định dựa trên cơ ở pháp luật Việt Nam, chứ không dựa trên cơ sở pháp luật nước ngoài. Điều 1 ?háp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước igoai năm 1995 nêu rõ: "Quyết định của trọng tài nước ngoài được hiểu là yuyét định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam của trong tài do các bên hoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp uật thương mại. Quyết định của trọng tài nước ngoài còn bao gồm quyết định cha trọng tài được tuyên tại lãnh thổ Việt Nam, nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên".
| Theo quy định của Pháp lệnh, trọng tài nước ngoài là "trọng tài do các bên thoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ - pháp luật thương mại" và đưa ra quyết định về các tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam nhưng không phải là trọng tài Việt Nam. Dấu hiệu chủ yếu ở đây là "do các bên thoả thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại” và "không phải là trọng tài Việt Nam".