Công Nhận và Thi Hành Quyết Định Trọng Tài Kinh Tế tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích công nhận và thi hành quyết định trọng tài kinh tế tại Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2002

258
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI KINH TẾ

1.1. Khái niệm quyết định của trọng tài kinh tế

1.2. Khái niệm và bản chất công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài

1.3. Sự cần thiết của việc công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài kinh tế

1.4. Trình tự và thủ tục công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài

1.5. Các điều kiện công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài

1.6. Cơ sở pháp luật về công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI KINH TẾ

2.1. Cơ sở pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài kinh tế

2.2. Thực trạng các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài kinh tế

2.3. Thực trạng các quy định pháp luật trong nguồn quốc nội của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài kinh tế

2.4. Thực tiễn hoạt động công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài kinh tế

3. CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI KINH TẾ

3.1. Hoàn thiện các quy định trong các điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài kinh tế

3.2. Hoàn thiện các quy định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài kinh tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng Quan về Công Nhận và Thi Hành Quyết Định Trọng Tài

Việc xác định khái niệm quyết định trọng tài kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề công nhận và thi hành tại Việt Nam. Điều này xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, trong thực tế có nhiều loại quyết định của trọng tài, và thứ hai mỗi một loại quyết định của trọng tài đặt ra vấn đề công nhận và thi hành không giống nhau. Vì quyết định của trọng tài được đề cập trọng luận án là quyết định của Trọng Tài Kinh Tế (TTKT), cho nên trước hết cần làm sáng tỏ khái niệm TTKT, sau đó sẽ xác định rõ các loại quyết định của trọng tài này. TTKT là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật và trên cơ sở thoả thuận của các bên phù hợp với trật tự pháp luật hiện hành (hoặc pháp luật Việt Nam, hoặc pháp luật nước ngoài) và có thể có các quyết định cần lược xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tế có nhiều loại trọng tài khác nhau như trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể của công pháp quốc tế (trong tài trong công pháp quốc tế) và trọng tài giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng của các quốc gia (trọng tài phi chính phủ). Cơ sở pháp luật của trọng tài trong lĩnh vực công pháp quốc tế là luật quốc tế.

1.1. Khái Niệm Quyết Định của Trọng Tài Kinh Tế TTKT

Luận án chỉ đề cập loại trọng tài hoạt động trong lĩnh vực quan hệ kinh tế-thương mại có quyền phán quyết về tranh chấp giữa các chủ thể của pháp luật quốc gia. Vấn đề đặt ra là cần xác định rõ khái niệm TTKT, bởi lẽ không phải tất cả các loại trọng tài thuộc lĩnh vực trên đều là TTKT. TTKT là trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế khác. Điều quan trọng là TTKT phải tuân thủ luật pháp Việt Nam hoặc luật pháp quốc tế được Việt Nam công nhận. Ví dụ, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) là một TTKT được công nhận tại Việt Nam.

1.2. Các Loại Quyết Định của Trọng Tài và Tính Chung Thẩm

Trong thực tế, TTKT đưa ra nhiều loại quyết định khác nhau, bao gồm quyết định về thủ tục, quyết định về chứng cứ và quyết định cuối cùng (phán quyết). Quyết định cuối cùng là quyết định quan trọng nhất, vì nó giải quyết tranh chấp một cách dứt điểm. Tính chung thẩm của phán quyết trọng tài là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính hiệu lực và khả thi của phán quyết. Các bên tham gia trọng tài thường đồng ý rằng phán quyết là chung thẩm và ràng buộc, có nghĩa là không thể kháng cáo lên tòa án, trừ những trường hợp rất hãn hữu.

II. Sự Cần Thiết Công Nhận Thi Hành Phán Quyết Trọng Tài

Việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Nếu phán quyết trọng tài không được công nhận và thi hành, thì các bên có thể mất niềm tin vào trọng tài, và các tranh chấp sẽ khó được giải quyết một cách nhanh chóng và hiệu quả. Điều này ảnh hưởng đến môi trường đầu tư kinh doanh. Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, từ giữa năm 1993 đến giữa năm 1995, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã thụ lý 42 vụ tranh chấp, vào loại cao của khu vực và thế giới, và đã giúp các bên hoà giải thành hoặc xét xử hầu như tất cả các vụ tranh chấp này.

2.1. Ưu Điểm của Trọng Tài so với Tòa Án Nhanh chóng và Bí mật

So với tòa án, trọng tài có nhiều ưu điểm vượt trội, đặc biệt là về tính nhanh chóng, linh hoạt và bảo mật. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thường nhanh hơn nhiều so với tòa án, vì các thủ tục trọng tài đơn giản hơn và các bên có thể tự do thỏa thuận về quy trình tố tụng. Ngoài ra, trọng tài đảm bảo tính bảo mật cao hơn, vì các thông tin về tranh chấp và phán quyết không được công khai. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp muốn bảo vệ bí mật kinh doanh của mình.

2.2. Đảm Bảo Thi Hành Hợp Đồng Vai Trò của Công Nhận và Thi Hành

Để trọng tài thực sự là một công cụ hữu hiệu của thương mại, đảm bảo việc thi hành các hợp đồng đã được ký kết, thì quyết định của trọng tài cần được công nhận và thi hành. Việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài đảm bảo rằng các bên phải tuân thủ các thỏa thuận đã đạt được trong hợp đồng, và nếu một bên không tuân thủ, thì phán quyết trọng tài có thể được thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Điều này tạo ra sự tin tưởng và ổn định cho các giao dịch thương mại.

III. Hướng Dẫn Thủ Tục Công Nhận và Thi Hành Quyết Định

Thủ tục công nhận và thi hành quyết định trọng tài tại Việt Nam được quy định trong Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài ngày 14/9/1995 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu tập trung vào các quyết định của trọng tài nước ngoài, chứ không đề cập đến phán quyết của TTKT Việt Nam. Ngay cả đối với quyết định của TTKT nước ngoài, nhiều vấn đề như việc xác định quyết định trọng tài, việc áp dụng các quy định trên trong thực tế ra sao còn chưa được làm sáng tỏ về mặt lý luận và kiểm nghiệm đầy đủ trong thực tiễn.

3.1. Thẩm Quyền của Tòa Án Cơ Quan Công Nhận Quyết Định Trọng Tài

Tòa án có thẩm quyền công nhận và thi hành quyết định trọng tài tại Việt Nam. Cụ thể, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài. Tòa án sẽ xem xét các điều kiện để công nhận và thi hành quyết định trọng tài, chẳng hạn như tính hợp pháp của quyết định, việc tuân thủ các thủ tục tố tụng trọng tài, và việc không vi phạm trật tự công cộng của Việt Nam.

3.2. Điều Kiện Công Nhận Tính Hợp Pháp và Tuân Thủ Thủ Tục

Để được công nhận và thi hành tại Việt Nam, quyết định trọng tài phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Thứ nhất, quyết định phải được đưa ra bởi một trọng tài có thẩm quyền và tuân thủ các quy định của pháp luật về trọng tài. Thứ hai, các bên phải được thông báo đầy đủ về các thủ tục tố tụng trọng tài và có cơ hội tham gia tranh tụng. Thứ ba, quyết định trọng tài không được vi phạm trật tự công cộng của Việt Nam. Nếu các điều kiện này được đáp ứng, tòa án sẽ ra quyết định công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài.

IV. Pháp Luật Việt Nam về Công Nhận và Thi Hành Phán Quyết

Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành, bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản pháp luật; ký kết, tham gia nhiều điều ước quốc tế liên quan công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT. Các văn bản pháp luật đó có thể được phân loại như sau: Nhóm thứ nhất - nhóm không chuyên về công nhận và thi hành tại Việt Nam các quyết định của TTKT chủ yếu bao gồm: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992; Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2000; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1990; Pháp lệnh Thi hành án Dân sự 1993; Nghị định của Chính phủ số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 Quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Nghị định số 30/CP của Chính phủ 1993 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dan sự va chấp hanh viên; Nghị định số 69/CP của Chính phủ 1993 quy định thủ tục thi hành án dân sự; Nghị định số 116/CP của Chính phủ ngày 5-9-1994 Về tổ chức và hoạt động của TTKT; Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về Tổ chức Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam; Quyết định số 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ Về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam.

4.1. Pháp Lệnh Công Nhận và Thi Hành Điểm Mấu Chốt Quan Trọng

Nhóm thứ hai - nhóm chuyên về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT bao gồm Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài ngày 14/9/1995 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các văn bản thuộc nhóm thứ nhất ghi nhận các quy định về thẩm quyển: của toà án, các cơ quan nhà nước khác trong việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT. Tuy nhiên, các quy định trong các văn 2ản đó chưa cụ thể, ví dụ chưa xác định rõ thẩm quyền, điều kiện thực hiện chi tiến hành cong nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT.

4.2. Điều Ước Quốc Tế Công Ước New York và Hiệp Định Tương Trợ

Liên quan đến các điều ước quốc tế về công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT, Việt Nam đã ký và tham gia chủ yếu các điều ước sau đây: a) các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, hôn nhân gia đình và hình sự (sau đây viết tắt là các hiệp định tương trợ tư pháp); b) các hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư; c) Công ước Niu Oóc Về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài. Việc ký kết và tham gia các điều ướẽ đó cũng đặt ra nhiều vấn dé cần được giải quyết về mặt lý luận cũng như thực tiễn.

V. Thách Thức Pháp Lý và Giải Pháp Hoàn Thiện Quy Định

Sự chưa hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở nước ta có thể được giải thích từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Việc giải quyết thoả đáng chính sách pháp luật trong lĩnh vực công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT không những góp phần hoàn thiện chính sách của nước ta vẻ trọng tài phi chính phủ, mà còn góp phần xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi để tạo động lực cho việc giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hoá và xã hội ở nước ta hiện nay. Báo cáo chính trị tại Đại hội IX đã chỉ rõ: “. nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, một số vấn đề văn hoá, xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết. Cơ chế, chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển”.

5.1. Xác Định Quyết Định Trọng Tài Giải Quyết Vấn Đề Thực Tiễn

Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài ước ngoài chỉ giải quyết các vấn dé về trình tự, thủ tục và điều kiện công hận và thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT nước ngoài, chứ không đề cập tới phán quyết của TTKT Việt Nam. Ngay cả đối với quyết định của TTKT nước ngoài, nhiều vấn đề như việc xác định quyết định trọng tài, việc áp dụng các quy định trên trong thực tế ra sao còn chưa được làm sáng tỏ về mặt lý luận và kiểm nghiệm đầy đủ trong thực tiễn. Cần có hướng dẫn cụ thể hơn để xác định rõ loại quyết định trọng tài nào được công nhận và thi hành.

5.2. Hoàn Thiện Chính Sách Thúc Đẩy Trọng Tài Phát Triển

Việc hoàn thiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực công nhận và thi hành quyết định trọng tài là yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của trọng tài tại Việt Nam. Cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của quy trình công nhận và thi hành quyết định trọng tài. Điều này sẽ tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi để các doanh nghiệp tin tưởng và sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp kinh tế của mình.

VI. Tương Lai của Thi Hành Quyết Định Trọng Tài Tại Việt Nam

Luận án có những điểm mới sau đây: - Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và tổng quát việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT. : - Làm sáng to khái niệm các loại quyết định của TTKT va từ đó đưa ra nhận xét về quyết định quan trọng nhất (quyết định cuối cùng — phán quyết) trong số các quyết định đó cần được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. - Phân tích một cách cơ bản khái niệm công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT. Đây là điểm mấu chốt quan trọng để lý giải :ho việc trường hợp nào quyết định của TTKT chỉ cần công nhận, trường hợp 140 vừa công nhận và vừa cần cho thi hành. - Làm sáng tỏ những tiêu chí phổ biến về trình tự, thủ tục và các điều ién công nhận và cho thi hành quyết định của TTKT. Đây là cơ sở lý luận uan trọng để đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và để xây dựng các iến nghị về phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về công nhận và no thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT.

6.1. Kiến Nghị Hoàn Thiện Cơ Sở Lý Luận và Ứng Dụng Thực Tiễn

Luận án cung cấp các kiến nghị cụ thể về việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về công nhận và thi hành quyết định trọng tài, bao gồm các kiến nghị về các quy định pháp luật cụ thể liên quan tới việc xác định khái niệm quyết định TTKT, các quy định về trình tự, thủ tục và các điều kiện công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của TIKT). Những kiến nghị này được xây dựng trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng, và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động trọng tài tại Việt Nam.

6.2. Hội Nhập Quốc Tế Tuân Thủ Công Ước New York 1958

Để phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về công nhận và thi hành quyết định trọng tài theo hướng tuân thủ các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài. Điều này sẽ giúp Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài và tạo dựng một môi trường kinh doanh minh bạch và ổn định.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ luật học công nhận và cho thi hành tại việt nam các quyết định của trọng tài kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận về việc công nhận va cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của TTKT; - Chương II: Thực trạng pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi tành tại Việt Nam các quyết định của TIKT; - _ Chương II: Hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của TTKT. Kết luận 13 CHUONG I CO SO LY LUAN VE VIEC CONG NHAN VA CHO THI HANH TAI VIET NAM CAC QUYET DINH CUA TRONG TAI KINH TE 1. KHAI NIEM QUYET DINH CUA TRONG TAI KINH TE Việc xác định khái niệm quyết định của TTKT có một ý nghĩa quan trọng trong vấn dé công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của. Điều này xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, trong thực tế có nhiều loại quyết định của trọng tài (mỗi trọng tài có nhiều loại quyết định; có nhiều loại trong tài); thứ hai mỗi một loại quyết định của trọng tài đặt ra vấn dé công nhận và thi hành không giống nhau.

Vì quyết định của trọng tài được đề cập trọng luận án là quyết định của TTKT, cho nên trước hết cần làm sáng tỏ khái niệm TTKT, sau đó sẽ xác định rõ các loại quyết định của trọng tài này. TTKT là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật và trên cơ šở thoả thuận của các bên phù hợp với trật tự pháp luật hiện hành (hoặc pháp uật Việt Nam, hoặc pháp luật nước ngoài) và có thể có các quyết định cần lược xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tế có nhiều loại trọng tài thác nhau như trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể của công ›háp quốc tế (trong tài trong công pháp quốc tế) [37, tr. 190, 199] và trọng tài xiải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng của các quốc nia (trọng tài phi chính phủ) [34, tr.

Cơ sở pháp luật của trọng tài trong inh vực công pháp quốc tế là luật quốc tế. Các tranh chấp được đưa ra trọng ài đó là các tranh chấp giữa các chủ thể của công pháp quốc tế (chủ yếu là ác quốc gia). Do vậy, luận án không đề cập loại quyết định của trọng tài này. ong cũng phải thừa nhận rằng trong một số trường hợp quyết định của trọng ii thuộc lĩnh vực công pháp quốc tế có ảnh hưởng đáng kể tới các quan hệ 14 giữa các cá nhân và pháp nhân thuộc các quốc gia khác nhau - các quan hệ thuộc lĩnh vực xem xét của trọng tài ngoài lĩnh vực công pháp quốc tế.

Như vậy, luận án chỉ đề cập loại trọng tài hoạt động trong lĩnh vực quan hệ kinh tế-thương mại có quyền phán quyết về tranh chấp giữa các chủ thể của pháp luật quốc gia. Vấn dé dat ra là cần xác định rõ khái niệm TTKT, bởi lẽ không phải tất cả các loại trọng tài thuộc lĩnh vực trên đều là TTKT. Luận án dé cập việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của TTKT, cho nên các loại trọng tài đó là trọng tài được xác định theo pháp luật Việt Nam (mặc dù chúng có thể được thành lập theo pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế). Đó là các trọng tài của Việt Nam (được thành lập trên cơ sở pháp luật Việt Nam để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh tế- thương mại) và trọng tài nước ngoài có thể có các quyết định mà theo pháp luật Việt Nam (theo các văn bản pháp luật của Việt Nam và các điều`ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia) cần được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Các trọng tài Việt Nam hiện nay bao gồm các trung tâm TKT được thành lập theo Nghị định số 116/CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TIKT tại Việt Nam ban hành ngày 5-9-1994 (cho đến cuối năm 2000, cả nước có 5 trung tâm TTKT: ở Hà Nội có 2, ở Bắc Giang có 1, ở TP. Hồ Chí Minh có 1, ở Cần Thơ có 1) và TTTTQTVN được thành lập theo Quyết định số 204-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về tổ chức TITTQTVN ngày 28/4/1993. | Trước đây, vào đầu những năm sáu mươi thế kỷ XX, ở nước ta có hai tổ chức trọng tài là Hội đồng Trọng tài Ngoại thương được thành lập theo Nghị định số 59/CP của Chính phủ ngày 30/4/1963 và Hội đồng Trọng tài Hàng hải được thành lập theo Nghị định số 153/CP của Chính phủ ngày 05/10/1964. Hai tổ chức trọng tài này xét về mặt tính chất đều là những tổ chức xã hội- nghề nghiệp có trình tự tố tụng được quy định giống nhau nhưng có thẩm 15 quyền khác nhau.

Việc thành lập TTTTQTVN bên cạnh Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam được tiến hành trên cơ sở hợp nhất hai tổ chức trọng tài này [61, tr. Trong linh vực quan hệ kinh tế trong nước, từ những năm 60 (14/1/1960) ở nước ta, các hội đồng TTKT có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế. Đây là các cơ quan do Chính phủ lập ra mang tính chất quyền lực Nhà nước cho nên chúng không có các đặc điểm vốn có của chế định trọng tài. Chúng thực chất là các cơ quan nhà nước, vừa có chức năng của cơ quan tư pháp (như tòa án), vừa có chức năng của cơ quan hành pháp.

Các tổ chức TTKT thời đó trực tiếp tham gia vào việc quản lý và tổ chức hoạt động kinh tế. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1996, các toà kinh tế được thành lập thạy thế chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế cho các tổ chức trọng tài trên [10, tr. Như vậy, trước khi thành lập các trung tâm TTKT (5/9/1994), ở Việt Nam trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp kinh tế trong nước, không có tổ chức trọng tài nào theỏ đúng nghĩa cuz nó. Sự kết thúc vai trò lịch sử của trọng tài Nhà nước diễn ra đồng thời với quá trình đổi mới trong chính sách kinh tế nhà nước trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.

Ở các quốc gia trên thế giới, ngoài các trọng tài thường trực kể trên, còn có trọng tài sự vụ (trọng tài ad-hoc) được thành lập trên cơ sở pháp luật và theo thoả thuận của các bên. Điều khác nhau căn bản giữa trọng tài sự vụ và trong tài thường trực là ở chỗ: thit nhất trọng tài thường trực có đội ngũ trọng tài viên định sẵn để các bên lựa chọn (trong khi đó trọng tài sự vụ không có); thứ hai, nếu như trọng tài thường trực có quy tắc để hội đồng trọng tài và các bên tuân thủ (trong một số trường hợp các bên có thể lựa chọn), thì trọng tài sự vụ không có: các bên phải thoả thuận xây dựng trên cơ sở pháp luật (giống như thoả thuận về hợp đồng) [45, tr. Trong một số văn bản pháp luật hiện hành như: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Hàng không Dân 16 jung Việt Nam và một số văn ban pháp luật khác có ghi nhận quyền của các sên lua chọn loại trọng tài sự vụ để giải quyết tranh chấp kinh tế quốc tế. Ví ju, khoản 1 Điều 122 Nghị định của Chính phủ số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy định chỉ tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy jinh: “.

Trong trường hợp hoà giải không thành các bên có thể chọn một rong các phương thức sau đây: a) Toà án Việt Nam; b) Trọng tài Việt Nam 1oặc Trọng tài nước ngoài, Trọng tài quốc tế; c) Trọng tài do các bên thoả huận thành lập”. Tuy nhiên, về mặt lý luận cũng như trong các văn bản pháp .uật chưa có lời giải đáp cho các vấn đề về quy chế loại trọng tài nay. Do vậy, rên thực tế hiện nay ở Việt Nam không có loại trọng tài sự vụ hoạt động [43, r. “Có thể nói, tại Việt Nam chưa có thông lệ giải quyết tranh chấp kinh ế trong nước bằng trọng tài vụ việc” [46, tr.

Trọng tài nước ngoài được coi là TIKT ở đây là các trọng tài được các ›ên thoả thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp có thể hoặc đã phát sinh rên cơ sở phù hợp với pháp luật nước ngoài về trọng tài để giải quyết các ranh chấp trong lĩnh vực kinh tế-thương mại [59, tr. Các tổ chức trọng ài thường trực của nước ngoài như vậy rất đa dạng về thẩm quyền, về thủ tục ố tụng, về quy mô hoạt động. Ví dụ, ở Hồng Kông có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông; ở Thái Lan có Trọng tài Thương mại Thái Lan; ở Ma-lai- sia có Trọng tài dưới sự bảo trợ của Trung tâm Trọng tài Kua-La-Lam-Po, [rung tâm Trọng tài Kua-La-Lăm-Pơ;, ở Sing-ga-po có Trung tâm Trọng tài uốc tế Sing-ga-po; ở Trung Quốc có trọng tài hợp đồng kinh tế,. Mặc dù, :ó những điểm khác nhau nhất định, song các trọng tài thường trực của các ước được coi là TTKT đều có các điểm chung như: - Có bộ phận thường trực; - Có đội ngũ trọng tài viên để các bên lựa chọn; 17 - Có quy tắc tố tụng trọng tài riêng (nhìn chung đều được xác lập dựa -én cơ Sở áp dụng rộng rãi các quy tắc tố tung của Trọng tài UNCITRAL) 51,tr.

16-17]; - Déu là các tổ chức phi chính phủ (không có tính chất quyền lực nhà \ước). Như vậy, khái niệm trọng tài nước ngoài cần được xác định dựa trên cơ ở pháp luật Việt Nam, chứ không dựa trên cơ sở pháp luật nước ngoài. Điều 1 ?háp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước igoai năm 1995 nêu rõ: "Quyết định của trọng tài nước ngoài được hiểu là yuyét định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam của trong tài do các bên hoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp uật thương mại. Quyết định của trọng tài nước ngoài còn bao gồm quyết định cha trọng tài được tuyên tại lãnh thổ Việt Nam, nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên".

| Theo quy định của Pháp lệnh, trọng tài nước ngoài là "trọng tài do các bên thoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ - pháp luật thương mại" và đưa ra quyết định về các tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam nhưng không phải là trọng tài Việt Nam. Dấu hiệu chủ yếu ở đây là "do các bên thoả thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại” và "không phải là trọng tài Việt Nam".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Công Nhận và Thi Hành Quyết Định Trọng Tài Kinh Tế tại Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình công nhận và thi hành các quyết định trọng tài kinh tế trong bối cảnh pháp lý của Việt Nam. Tài liệu này nêu rõ các quy định pháp luật hiện hành, các bước cần thiết để thực hiện công nhận quyết định trọng tài, cũng như những thách thức mà các bên liên quan có thể gặp phải. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ quy trình này để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong các tranh chấp kinh tế.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Cơ chế công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam so sánh với công ước New York 1958. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự khác biệt giữa các cơ chế công nhận quyết định trọng tài trong nước và quốc tế, từ đó nâng cao khả năng áp dụng trong thực tiễn.