Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HÓA CÔNG TY SUPE PHỐT PHÁT VÀ HÓA CHẤT LÂM THAO 1. QUAN NIỆM VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc là một chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà nƣớc, có nhiều tác động đến sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, đời sống ngƣời lao động và những vấn đề xã hội khác nên đƣợc tiến hành một cách thận trọng với những bƣớc thí điểm ban đầu vào năm 1990 trên cơ sở pháp lý là Quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990. Sau đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về vấn đề này, nhƣ: Chỉ thị số 202 ngày 6-8-1992; Chỉ thị số 84 ngày 04-3-1993 của Thủ tƣớng Chính phủ; Nghị định số 28/NĐ-CP ngày 07-5-1996; Nghị định số 25/CP ngày 26-3-1997; Thông báo số 63 TB/TW ngày 04-4-1997 của Bộ Chính trị; Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 29-6-1998; Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19-6-2002, Chỉ thị số 45 ngày 22-10-2004 của Bộ Chính trị đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 3, khóa IX về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nƣớc. Theo quan điểm của các quốc gia đã tiến hành cổ phần hóa nhƣ Trung Quốc, Malaisia, các nƣớc Đông Âu và Liên Xô cũ… thì việc xem xét vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn, đó là quá trình tƣ nhân hóa.
Tƣ nhân hóa theo nhƣ định nghĩa của Liên Hợp Quốc là sự biến đổi tƣơng quan giữa nhà nƣớc và thị trƣờng trong đời sống kinh tế của một nƣớc ƣu tiên thị trƣờng. Theo cách hiểu này thì toàn bộ chính sách, thể chế, luật lệ đều nhằm khuyến khích, mở rộng khu vực phát triển kinh tế tƣ nhân hay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt quyền sở hữu và sự can thiệp trực tiếp của nhà nƣớc vào các hoạt động kinh 13 z doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, dành cho thị trƣờng vai trò điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua tự do giá cả, tự do lựa chọn đối tác và ngành nghề kinh doanh. * Quan niệm về cổ phần hóa của Trung Quốc Trung Quốc và Việt Nam không chỉ gần gũi nhau về địa lí mà còn có những tƣơng đồng về mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung trƣớc đây và các định hƣớng chuyển đổi hiện nay, vì vậy xem xét cổ phần hóa ở Trung Quốc là cần thiết cho việc cổ phần hóa ở Việt Nam. Trung Quốc dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin để tiến hành chuyển hóa doanh nghiệp nhà nƣớc; coi cổ phần hóa là bộ phận hữu cơ trong tổng thể đổi mới doanh nghiệp nhà nƣớc, luôn khẳng định đây là con đƣờng tìm kiếm hiệu quả kinh doanh chứ không phải là tìm kiếm các hình thức sở hữu khác nhau; đổi mới doanh nghiệp nhà nƣớc là khâu then chốt của cải cách kinh tế, coi tiền đề của cải cách là xây dựng đồng bộ cơ chế thị trƣờng.
Mục tiêu cổ phần hóa ở Trung Quốc là mở rộng hình thức sở hữu tạo cơ sở cho sự phát triển của kinh tế thị trƣờng. Điều chỉnh lại vai trò của khu vực kinh tế nhà nƣớc nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nƣớc. Định hƣớng năng lực hành chính của nhà nƣớc giảm bớt tham nhũng và thói quen dựa dẫm vào nhà nƣớc, thay đổi mối quan hệ giữa những ngƣời quản lý hành chính với những ngƣời quản lý kinh tế. Và mục tiêu cuối cùng là thƣơng mại hóa hành vi quản lý tạo ra chế độ khuyến khích với các nhà quản lý, thay đổi lực lƣợng lao động, nâng cao thu nhập, tăng nguồn thu để trả nợ và cho các mục đích khác, cân bằng ngân sách.
Hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc ở Trung Quốc là nhà nƣớc cùng với các doanh nghiệp trong nền kinh tế tham gia nắm giữ cổ phần để hình thành nên công ty cổ phần, theo đó công ty bán cổ phần cho ngƣời lao động trong nội bộ doanh nghiệp và phát hành công khai cổ phần ra xã hội. 14 z Về phƣơng pháp cổ phần hóa, Trung Quốc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc theo thứ tự doanh nghiệp có quy mô nhỏ rồi mới đến vừa và lớn, coi trọng hình thức công ty cổ phần mà nhà nƣớc nắm cổ phần chi phối các doanh nghiệp lớn. Về quy trình cổ phần hóa, Trung Quốc tiến hành đầy đủ các bƣớc nhƣ: Xác định danh sách các doanh nghiệp nhà nƣớc có đủ điều kiện cổ phần hóa (kinh doanh có lãi không nằm trong diện doanh nghiệp nhà nƣớc cần phải nắm giữ 100% vốn); Xác định thực tế tài sản doanh nghiệp; Tuyên truyền quảng cáo hoàn thiện chính sách để mọi ngƣời nắm đƣợc thực chất hoạt động của doanh nghiệp và có quyết định mua cổ phần; Lựa chọn phƣơng thức bán cổ phần rộng rãi cho công chúng hay bán cho các đối tƣợng đã xác định trƣớc, mức giá bán cổ phiếu ƣu đãi; Giải quyết các vấn đề hậu cổ phần hóa. * Quan niệm về cổ phần hóa của một số nước ASEAN Các nƣớc ASEAN có đặc điểm chung là hầu hết nền kinh tế các nƣớc đều có tốc độ tăng trƣởng nhanh và tƣơng đối ổn định.
các doanh nghiệp nhà nƣớc hoạt động theo cơ chế thị trƣờng là chính chỉ có một bộ phần nhỏ là hoạt động công ích chính vì vậy hiệu quả kinh doanh đƣợc đặt lên hàng đầu. Nếu các doanh nghiệp nhà nƣớc mà hoạt động không hiệu quả thì sẽ bị giải thể hoặc phá sản. Mục đích chính của cổ phần hóa ở các nƣớc ASEAN là: Nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nƣớc nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung, xây dựng lại cơ cấu kinh tế theo hƣớng ƣu tiên kinh tế tƣ nhân, tạo môi trƣờng kinh doanh tích cực đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế xóa bỏ một phần lối kinh doanh độc quyền kém hiệu quả của kinh tế nhà nƣớc, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nƣớc. Singapore và Malaisia là hai nƣớc tƣơng đối thành công trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc.
15 z Tại Singapore nhà nƣớc đã sớm soạn thảo một chƣơng trình cổ phần hóa có hệ thống phù hợp với đặc điểm tình hình trong nƣớc, một ủy ban tƣ nhân hóa khu vực kinh tế nhà nƣớc đƣợc thành lập đã đề ra chƣơng trình cổ phần hóa hoàn chỉnh dự định kéo dài trong 10 năm. Các doanh nghiệp nhà nƣớc làm ăn có lãi đƣợc chọn là đối tƣợng cổ phần hóa trƣớc tiên. Thành công nhất trong cổ phần hóa ở Singapore là đã không để xẩy ra tình trạng thâm hụt ngân sách, vẫn duy trì đƣợc mức tăng trƣởng và tích lũy cao. do vậy mà hầu hết các mục tiêu cổ phần hóa Singapore đề ra đều đã đạt đƣợc.
Malaisia đã thay đổi các chính sách kinh tế theo đó lấy cải cách khu vực kinh tế nhà nƣớc làm trọng tâm. Chuyển khoảng 20% số doanh nghiệp nhà nƣớc hiện có sang công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nƣớc theo hƣớng hoạt động có hiệu quả, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nƣớc, hạ mức nợ của chính phủ. Malaisia đã chấp nhận xóa bỏ một phần sở hữu nhà nƣớc theo quan niệm doanh nghiệp nhà nƣớc trong một số ngành thuộc hạ tầng cơ sở hoặc dịch vụ trƣớc đây tƣ nhân không đầu tƣ nên nhà nƣớc phải chịu trách nhiệm. Còn bây giờ khu vực kinh tế tƣ nhân đã đủ sức vƣơn tới những lĩnh vực này thì nên thu hẹp phần doanh nghiệp nhà nƣớc không chỉ các xí nghiệp làm ăn thua lỗ mà còn cả những xí nghiệp làm ăn có lãi.
Qua kinh nghiệm của các nƣớc ta thấy cổ phần hóa không bao giờ dễ dàng song nhiều nƣớc đã thành công. Điều kiện của chúng ta hiện nay là tƣơng đối thuận lợi, vì vậy phải tranh thủ đẩy mạnh cổ phần hóa, phải mạnh dạn trong suy nghĩ và hành động và có quyết tâm cao thì mới đạt đƣợc kết quả nhƣ ý muốn. * Quan niệm về cổ phần hóa của Việt Nam Từ quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc ở các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, Đảng và Nhà nƣớc ta đã rút ra kinh nghiệm để tiến hành cổ phần hóa đƣợc hoàn chỉnh và toàn diện hơn. Theo quan điểm của 16 z Đảng, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc tiến hành nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh; đáp ứng yêu cầu của cơ chế thị trƣờng; huy động vốn từ các thành phần kinh tế; tăng cƣờng quản lý dân chủ.
Đảng và Nhà nƣớc khẳng định cổ phần hóa ở Việt Nam không phải là tƣ nhân hóa vì cổ phần hóa hƣớng tới tháo gỡ khó khăn về vốn, về cơ chế cho doanh nghiệp nhà nƣớc hiện có, không nhằm thu hẹp sở hữu nhà nƣớc trong nền kinh tế quốc dân. Vốn thu đƣợc từ bán cổ phần, Nhà nƣớc không chi dùng cho ngân sách mà để đầu tƣ tiếp vào nền kinh tế. Theo quan điểm của Đảng, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc là việc nhà nƣớc bán một phần hay toàn bộ giá trị tài sản doanh nghiệp của mình cho các cá nhân hay tổ chức kinh tế trong hoặc ngoài nƣớc, hoặc bán trực tiếp cho cán bộ, công nhân viên của chính doanh nghiệp nhà nƣớc thông qua đấu thầu công khai, hay thông qua thị trƣờng chứng khoán để hình thành nên các công ty cổ phần [25]. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc là vấn đề rất mới đối với Việt Nam.
Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc của các nƣớc trên thế giới đặc biệt là các nƣớc có điều kiện tƣơng đồng nhƣ: Trung Quốc, Nga, các nƣớc ASEAN để tìm kiếm kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam là vô cùng quan trọng. Nói tóm lại, quan niệm về cổ phần hóa của các quốc gia đều hƣớng tới nội dung chung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách tƣ nhân hóa. Cổ phần hóa chính là phƣơng thức thực hiện xã hội hóa sở hữu - Chuyển hình thức kinh doanh từ một chủ sở hữu là doanh nghiệp nhà nƣớc thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp hơn với nền kinh tế thị trƣờng và đáp ứng đƣợc nhu cầu của kinh doanh hiện đại.