Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Cơ chế tự chủ tài chính tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Hưng, chuyên ngành Kinh tế học (mã số 9.01) tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Tiến Dũng và TS. Phạm Thu Phương.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giáo dục đại học giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao phục vụ mục tiêu phát triển bền vững và công bằng xã hội (UNESCO, 1998). Nhằm nâng cao tính chủ động, năng động và năng lực quản trị, các cơ sở giáo dục đại học công lập cần được trao quyền tự chủ, trong đó tự chủ tài chính là điều kiện tiên quyết. Tại Việt Nam, hệ thống thể chế đã từng bước ghi nhận quyền tự chủ qua Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Luật Giáo dục đại học năm 2012, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP.

Tuy nhiên, cơ chế tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập còn nhiều điểm nghẽn, tốc độ đổi mới chậm hơn khu vực ngoài công lập, dẫn đến việc thiếu chủ động trong phát triển nguồn thu và hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) là một trong hai đại học quốc gia được quy định cơ chế tài chính đặc thù theo Nghị định số 186/2013/NĐ-CP và Quyết định số 26/2014/QĐ-TTg. Dẫu vậy, quyền tự chủ thực tế và cơ chế phân cấp trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học thành viên còn bất cập, các đơn vị chưa hoàn toàn chủ động khai thác và phân bổ nguồn lực. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và xác lập giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại ĐHQG-HCM là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án là đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại ĐHQG-HCM dựa trên việc làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập và phân tích thực tiễn tại đơn vị.

Mục tiêu cụ thể được xác định gồm ba nội dung:

  1. Hình thành khung lý luận về cơ chế tự chủ tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại ĐHQG-HCM nhằm xác định các kết quả đạt được, những mặt hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó.
  3. Đề xuất quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại ĐHQG-HCM.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập.
  • Phạm vi không gian: ĐHQG-HCM và các cơ sở giáo dục đại học thành viên.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2012–2017 và đề xuất định hướng, giải pháp đến năm 2020.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu bốn khía cạnh của tự chủ tài chính gồm: tự chủ về nguồn thu, tự chủ về chi, tự chủ trong phân phối kết quả tài chính, và tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Các công trình quốc tế tiếp cận tự chủ tài chính theo các góc độ:

  • Phạm vi nguồn lực tiền tệ: Babbidge và Rosenweig (1962) định nghĩa tự chủ đại học là sự không phụ thuộc vào một nguồn hỗ trợ duy nhất, đồng nhất tự chủ đại học với việc đa dạng hóa nguồn thu. Clark (1998) khẳng định nguồn tài chính đa dạng ngoài ngân sách nhà nước (hợp đồng nghiên cứu, tài trợ doanh nghiệp, dịch vụ khuôn viên, phí người học) là điều kiện cần để mở rộng tự chủ. Ngược lại, Ashby (1966) tách biệt tự chủ đại học thành 6 quyền tự do, trong đó tự chủ tài chính là quyền tự do quyết định sử dụng nguồn thu từ nhà nước và tư nhân (tự chủ chi). Rothblatt (1992) và Sheehan (1997) tích hợp cả hai khía cạnh: quyền độc lập phân bổ ngân sách nhà nước cấp và quyền tự tạo nguồn thu ngoài ngân sách.
  • Phạm vi tích hợp nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ: Cazenave (1992) gắn tự chủ tài chính với tuyển dụng, trả lương, sở hữu cơ sở vật chất và quyền xây dựng, bảo trì hạ tầng. Neave (1998) phân tách rõ ba trụ cột của tự chủ đại học (học thuật, tài chính, tổ chức và quản lý), trong đó tự chủ tài chính là sự chủ động huy động và sử dụng các nguồn lực bên trong, bảo đảm tính minh bạch và phi lợi nhuận. Ziderman (1994) và Mc Daniel (1996) nhấn mạnh các thẩm quyền thiết lập học phí, cơ chế phân bổ nội bộ, vay nợ trên thị trường vốn và giữ lại lợi nhuận thặng dư. Jongbloed và cộng sự (2000), Cotelnic và cộng sự (2015) mở rộng sang quyền chuyển giao công nghệ, sở hữu đất đai và tài sản công.
  • Phương pháp đo lường và nhân tố ảnh hưởng: Dominicis và cộng sự (2011) sử dụng chỉ số đa dạng hóa Simpson để đo lường cấu trúc nguồn thu. Pruvot và Estermann (2017) thuộc Hiệp hội Đại học Châu Âu (EUA) xây dựng bảng điểm đo lường tự chủ tài chính qua 5 tiêu chí: thời hạn/hình thức cấp ngân sách, giữ lại thặng dư, vay nợ, sở hữu tài sản và định mức học phí. Michaela Martin (2013) cùng các báo cáo của EUA chỉ ra rằng mức độ tự chủ tài chính chịu sự chi phối của khung pháp lý, cơ chế kiểm soát của chính phủ, năng lực cạnh tranh của cơ sở đào tạo và mối liên kết hữu cơ với tự chủ tổ chức, nhân sự và học thuật.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Các công trình trong nước phân tích cơ chế tự chủ tài chính gắn với các văn bản pháp lý:

  • Phan Đăng Sơn (2014) dựa trên Nghị định số 43/2006/NĐ-CP để phân định các nội dung thu và nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư, mua sắm. Vũ Lan Hương (2012) và Phạm Ngọc Trường (2016) khẳng định tính tất yếu của tự chủ quản lý tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp. Mai Thị Sen (2017) tiếp cận theo khung phân tích của EUA, đề cập quyền định mức học phí, trả lương theo hiệu suất và vay vốn đầu tư. Đỗ Trung Tá (2017) nhấn mạnh việc cân đối tài chính, bảo đảm nguồn lực nội bộ cho đào tạo, nghiên cứu và khai thác tài sản công.
  • Nguyễn Thị Hương và Tạ Ngọc Cường (2016) phân tích cơ chế tự chủ theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP về quản trị đại học, mức học phí và các quỹ học bổng. Phùng Xuân Nhạ và cộng sự (2012) phân tích chính sách học phí và chỉ ra sự bất cập khi áp trần học phí theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP đối với các đơn vị tự chủ. GS. Lâm Quang Thiệp và GS. Phạm Phụ (2008) luận giải dịch vụ giáo dục đại học mang tính chất lợi ích tư, thiết lập cơ sở khoa học cho lý thuyết chia sẻ chi phí đào tạo.
  • Ở cấp độ luận án tiến sĩ, Trần Đức Cân (2012) nghiên cứu tự chủ tài chính giai đoạn 2006–2011, thiết lập các tiêu chí chất lượng cơ chế; Trương Thị Hiền (2017) vận dụng thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) trong quản lý tài chính tại 4 trường đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT tại TP.HCM; Nguyễn Thị Hương (2015) nghiên cứu mô hình quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Đối với ĐHQG-HCM, Huỳnh Thành Đạt (2017), Minh Hiền (2016) và Thái Việt (2017) đề cập đến chủ trương tự chủ đại học, phân cấp quản trị và lộ trình phân nhóm tự chủ trước năm 2020 nhưng chưa phân tích định lượng toàn diện hệ thống dữ liệu tài chính của đơn vị.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

  1. Khung lý thuyết quốc tế về tự chủ tài chính chưa tương thích hoàn toàn với mô hình tổ chức của giáo dục đại học Việt Nam, đặc biệt là loại hình đại học hai cấp như Đại học Quốc gia.
  2. Thiếu vắng hệ thống tiêu chí định lượng và định tính toàn diện để đánh giá cơ chế tự chủ tài chính áp dụng riêng cho đơn vị dự toán cấp 1 đặc thù có các trường đại học thành viên.
  3. Chưa có công trình nào đánh giá thực chứng đầy đủ số liệu tài chính thu chi, cơ cấu ngân sách và mức độ tự chủ tài chính tại ĐHQG-HCM trong giai đoạn 2012–2017 để xác định mô hình tự chủ phù hợp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Sứ mệnh giáo dục đại học: Dựa trên quan điểm của Ronald Barnett (1990), UNESCO (1966), Từ điển Giáo dục học (Bùi Hiền và cộng sự, 2001) và Điều 5 Luật Giáo dục đại học năm 2012, giáo dục đại học thực hiện đào tạo nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu và chuyển giao tri thức mới nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
  • Lý thuyết chia sẻ lợi ích và chi phí: Phân loại giáo dục đại học từ hàng hóa công thuần túy sang hàng hóa cá nhân có tính loại trừ và tính cạnh tranh một phần. Báo cáo của World Bank chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận cá nhân của người tốt nghiệp đại học đạt khoảng 17% (so với 10% ở tiểu học và 7% ở trung học), tạo cơ sở pháp lý và kinh tế cho việc người học cùng chia sẻ chi phí đào tạo thông qua học phí.
  • Lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management - NPM): Bắt nguồn từ Hood (1991) nhằm thay thế mô hình hành chính truyền thống của Weber (1921). Hai nguyên lý cốt lõi được luận án áp dụng là: (1) Xã hội hóa cung ứng dịch vụ công nhằm giảm gánh nặng ngân sách nhà nước; (2) Quản lý theo kết quả (Meier, 2003; Lê Văn Hòa, 2016), chuyển đổi từ việc kiểm soát các yếu tố đầu vào sang kiểm soát chất lượng đầu ra, trao quyền tự quyết đi kèm trách nhiệm giải trình.
  • Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính: Luận án định nghĩa cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập là hệ thống các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong toàn bộ hoạt động tài chính, bao gồm cả nguồn lực tiền tệ và nguồn lực phi tiền tệ (tài sản, cơ sở vật chất).
Mô hình TCTC Nước áp dụng Bản chất cơ chế Đặc trưng phân bổ tài chính
Tài chính chi tiêu Canada, Pháp, Nhật Bản, Thụy Điển, Na Uy, Trung Quốc, Nigeria Ngân sách nhà nước chuyển trực tiếp, kiểm soát nghiêm ngặt theo loại chi tiêu. Mức độ tự chủ của trường thấp. Gồm ngân sách thường xuyên phân bổ theo khoản mục chi và ngân sách theo chương trình do các trung tâm chi phí phân bổ.
Tài chính kết quả Đan Mạch, Phần Lan, Israel, Hà Lan, Hoa Kỳ Phân bổ ngân sách căn cứ vào kết quả nghiên cứu và chất lượng học thuật; cơ sở có quyền tự chủ tài chính và quản trị rộng rãi. Dựa trên kết quả trực tiếp (quy mô, chất lượng đào tạo) và kết quả cuối cùng (tỷ lệ có việc làm, thu nhập sinh viên, đánh giá của doanh nghiệp).
Hợp đồng tài chính giáo dục Brazil, Argentina, Ấn Độ, Hy Lạp, Ý Tài chính xác lập qua đàm phán hợp đồng giữa đại diện trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước. Dựa vào kế hoạch phát triển dài hạn, các thỏa thuận riêng lẻ hoặc tỷ lệ phần trăm phân bổ cố định từ thu nhập quốc dân.
Cấp ngân sách theo khối Áo, Estonia, Na Uy, Ba Lan, Thụy Sĩ, Slovakia Ngân sách được cấp trọn gói theo một khoản khối duy nhất thay vì cấp chi tiết theo mục chi. Khoản trợ cấp được trường phân phối độc lập; một số quốc gia quy định hạn chế đối với thủ tục mua sắm tài sản công.
Mô hình hợp tác khác biệt Đông Âu, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ Huy động nguồn thu từ người học để bù đắp chi phí vận hành và quản lý. Học phí được quyết định bởi trường, cơ quan công quyền hoặc phối hợp; nhà nước thường khống chế mức trần học phí.
Mô hình pháp lý Áo, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh Khai thác quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học. Tổ chức nghiên cứu và trường đại học nắm quyền chuyển giao công nghệ để tạo nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách.
Sử dụng các khoản vay tài chính Đan Mạch, Latvia, Thụy Điển, Pháp Cho phép các cơ sở giáo dục đại học vay vốn từ thị trường tài chính dưới các điều kiện kiểm soát. Trường được phép vay vốn ngân hàng thương mại hoặc ngân hàng trung ương với hạn mức và điều kiện chặt chẽ.

Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của tác giả và Viktoriia, O. (2018).

Hệ thống tiêu chí đánh giá cơ chế tự chủ tài chính

Luận án xây dựng khung đánh giá tích hợp gồm hai nhóm tiêu chí: nhóm tiêu chí bản chất cơ chế và nhóm tiêu chí thực hiện tự chủ tài chính.

Nhóm đánh giá Tiêu chí cụ thể Chỉ báo / Thước đo xác định
1. Tính hiệu lực Mức độ khả thi của cơ chế Sự tương thích với pháp luật nhà nước, sự đồng bộ của hệ thống văn bản hướng dẫn và phù hợp với thực tiễn đơn vị.
2. Tính hiệu quả Tác động nâng cao chất lượng hoạt động Tỷ lệ sinh viên/giảng viên; số lượng và chất lượng công bố quốc tế; doanh thu nghiên cứu khoa học; mức độ đáp ứng cơ sở vật chất; thứ hạng đại học (bảng xếp hạng QS World).
3. Tính linh hoạt Mức độ chủ động thích ứng Quyền tự điều chỉnh dự toán thu chi; khả năng mở rộng nguồn thu ngoài ngân sách; sự chủ động ban hành quy chế chi tiêu nội bộ.
4. Tính ràng buộc Trách nhiệm thực hiện mục tiêu Trách nhiệm xây dựng kế hoạch tài chính trung và dài hạn; áp lực cân đối thu chi và trách nhiệm giải trình.
5. Tính minh bạch Mức độ công khai tài chính Thực hiện Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT: công khai dự toán, quyết toán, mức học phí, nguồn thu dịch vụ, chính sách học bổng và kết luận thanh tra.
6. Thực hiện tự chủ thu Tỷ trọng nguồn thu tự quyết và chỉ số đa dạng hóa nguồn thu Chỉ số Simpson: $D = 1 - \sum_{i=1}^{s} P_i^2$ (trong đó $P_i$ là tỷ trọng của nguồn thu thứ $i$ trên tổng nguồn thu; giá trị $D$ tiến dần về 1 biểu thị mức độ đa dạng hóa cao).
7. Thực hiện tự chủ chi Khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên Số khoản mục được chủ động quyết định; mức độ xây dựng định mức chi trả thu nhập và trích lập quỹ.
8. Tự chủ phân phối kết quả tài chính Thặng dư và cân đối thu chi Chênh lệch thu chi = Tổng nguồn thu - Tổng số chi; Tỷ lệ % chênh lệch = (Chênh lệch thu chi / Tổng nguồn thu) $\times$ 100.
9. Tự chủ quản lý và sử dụng tài sản Quyền định đoạt cơ sở vật chất Mức độ tự chủ định giá, lập phương án liên doanh, liên kết, cho thuê tài sản nhàn rỗi và ban hành định mức sử dụng tài sản nội bộ.

Nguồn: Tác giả xây dựng dựa trên Bảng 2.1 của luận án.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập hệ thống văn bản pháp quy (Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 186/2013/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, Quyết định số 26/2014/QĐ-TTg, Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP) và các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên giai đoạn 2012–2017 của ĐHQG-HCM, các trường thành viên (Trường ĐH Bách Khoa, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Quốc tế, Trường ĐH Công nghệ Thông tin, Trường ĐH Kinh tế - Luật), cùng dữ liệu so sánh từ ĐHQG-HN, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, Trường ĐH Tôn Đức Thắng.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn sâu trực tiếp, qua thư điện tử và điện thoại đối với các nhà quản lý, lãnh đạo phụ trách tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện thí điểm theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP và các cơ sở thành viên thuộc ĐHQG-HCM.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh chuỗi thời gian (giai đoạn 2012–2017 tại ĐHQG-HCM) và so sánh chéo (giữa ĐHQG-HCM với ĐHQG-HN và các trường đại học khối kinh tế, kỹ thuật); phương pháp thống kê mô tả để lượng hóa các chỉ tiêu quy mô nhân sự, tài sản, đào tạo, nguồn thu, cơ cấu chi và tính toán chỉ số đa dạng hóa nguồn thu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về tự chủ tài chính đại học theo hai nhóm nội dung chính: nội hàm khái niệm và tiêu chí đánh giá cùng các yếu tố chi phối.

Tác giả chỉ ra rằng các học giả quốc tế đã tiếp cận tự chủ tài chính từ góc độ nguồn lực tài chính thuần túy (Ashby, Clark, Babbidge) đến việc tích hợp các nguồn lực phi tiền tệ như quyền sở hữu tài sản, vay nợ và khai thác thương mại sở hữu trí tuệ (Neave, Jongbloed, EUA). Các mô hình đo lường của Dominicis (sử dụng chỉ số Simpson) và Pruvot - Estermann (bảng điểm EUA 2017) cho thấy tự chủ tài chính phụ thuộc lớn vào mức độ phân cấp pháp lý và sự tự chủ trong các mặt tổ chức, học thuật.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phan Đăng Sơn, Trần Đức Cân, Trương Thị Hiền, Nguyễn Thị Hương đã làm rõ từng mặt hoạt động quản trị tài chính theo các văn bản quản lý nhà nước nhưng chủ yếu tập trung vào các trường đại học trực thuộc Bộ hoặc trường đại học địa phương. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu thực chứng về cơ chế tự chủ tài chính tại mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực hai cấp như ĐHQG-HCM, khẳng định sự cần thiết phải phân tích một cơ chế tài chính phù hợp với mô hình đại học định hướng nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế của tự chủ tài chính trong giáo dục đại học. Dựa trên lý thuyết chia sẻ chi phí và lý thuyết Quản lý công mới, chương luận giải việc chuyển dịch quản lý nhà nước từ kiểm soát yếu tố đầu vào sang quản trị theo kết quả đầu ra.

Tác giả phân tích kinh nghiệm tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập tiểu bang ở Mỹ (thời kỳ 1980–2005 với sự sụt giảm tài trợ công và gia tăng nguồn thu từ hợp đồng nghiên cứu, tư nhân), Hàn Quốc, một số quốc gia Châu Âu (theo báo cáo mức độ tự chủ năm 2017 của EUA), và kinh nghiệm thực tiễn từ các trường đại học thí điểm tại Việt Nam gồm Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân.

Từ kinh nghiệm quốc tế và trong nước, tác giả xây dựng khung phân tích cơ chế tự chủ tài chính gồm 5 tiêu chí đánh giá cơ chế (tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính linh hoạt, tính ràng buộc, tính minh bạch) và 4 nội dung thực hiện tự chủ tài chính (thu, chi, phân phối chênh lệch thu chi, quản lý tài sản). Chương này cũng phân tích 7 mô hình tự chủ tài chính trên thế giới và phân loại các nhân tố ảnh hưởng thành: nhân tố bên ngoài (khung pháp lý, vai trò cơ quan chủ quản, thị trường giáo dục) và nhân tố bên trong (năng lực quản trị, năng lực đội ngũ giảng viên, uy tín học thuật và cơ sở vật chất của nhà trường).

Chương 3: Thực trạng về cơ chế tự chủ tài chính tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về tổ chức và thực trạng vận hành cơ chế tài chính của ĐHQG-HCM giai đoạn 2012–2017 thông qua chuỗi số liệu từ 21 bảng thống kê và 7 hình vẽ:

  • Quy mô nhân sự và năng lực đào tạo: Đánh giá quy mô nhân sự (Bảng 3.1), tỷ lệ sinh viên/giảng viên (Bảng 3.2), trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ - giảng viên (Bảng 3.3) và sự biến động tuyển sinh, đào tạo, tốt nghiệp (Bảng 3.6, 3.7, 3.8, 3.9). Số ngành đào tạo đại học mở rộng liên tục trong giai đoạn 2012–2016 (Bảng 3.10).
  • Cơ sở vật chất và tài sản: Luận án thống kê diện tích đất đai, phòng học, phòng thí nghiệm năm 2016 (Bảng 3.4) và hiện trạng khai thác tài sản dùng chung trong khu đô thị ĐHQG-HCM (Bảng 3.5).
  • Hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học (Bảng 3.11), số bài báo công bố khoa học trong nước và quốc tế (Bảng 3.12), doanh thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học giai đoạn 2013–2017 (Bảng 3.13) cùng các chương trình hợp tác quốc tế (Bảng 3.14).
  • Nguồn thu và cơ cấu thu: Tổng hợp nguồn thu giai đoạn 2012–2017 (Bảng 3.15, Hình 3.2, Hình 3.3) cho thấy ngân sách nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng chi phối, dù nguồn thu sự nghiệp (học phí, dịch vụ) có xu hướng gia tăng (Hình 3.4). Tính toán chỉ số Simpson cho thấy hệ số đa dạng hóa nguồn thu sự nghiệp còn thấp, chưa có sự bứt phá ở các nguồn thu từ chuyển giao công nghệ và khai thác tài sản (Bảng 3.17).
  • Cơ cấu chi tiêu và chênh lệch thu chi: Phân tích các nhóm chi thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi mua sắm sửa chữa (Bảng 3.18, Hình 3.5, Hình 3.6) và kết quả thặng dư/chênh lệch thu chi qua các năm (Bảng 3.19).
  • Mức độ tự chủ tài chính: Tổng hợp mức độ tự chủ của toàn hệ thống ĐHQG-HCM (Bảng 3.20) và đánh giá chi tiết mức độ tự chủ tài chính tại từng trường đại học thành viên năm 2016 (Bảng 3.21, Hình 3.7).

Dựa trên khung đánh giá, tác giả chỉ ra các kết quả đạt được về quy mô đào tạo, gia tăng số bài báo quốc tế và cải thiện thu nhập cán bộ. Tuy nhiên, cơ chế còn bộc lộ 4 hạn chế lớn: (1) Cơ chế chưa bảo đảm tính hiệu lực; (2) Thiếu hệ thống văn bản hướng dẫn cụ thể để thực thi quyền tự chủ đặc thù; (3) Quy định nội bộ của một số đơn vị thành viên chưa hoàn toàn tương thích với quy định pháp luật nhà nước; (4) Cơ chế chưa bảo đảm tính hiệu quả cao trong huy động nguồn lực ngoài ngân sách và khai thác cơ sở vật chất. Bốn nguyên nhân trực tiếp được xác định gồm: vướng mắc từ chủ trương, chính sách chung của nhà nước; thiếu khung pháp lý đồng bộ; bất cập trong cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự của mô hình hai cấp; hạn chế nội tại trong năng lực tạo nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước.

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 4 xác định các yêu cầu và bối cảnh phát triển giáo dục đại học trong nước và quốc tế, định vị mục tiêu chiến lược của ĐHQG-HCM đến năm 2020.

Quan điểm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính được xác định là: chuyển từ cơ chế phân bổ bình quân sang cơ chế gắn với hiệu quả hoạt động; kết hợp tự chủ tài chính với tự chủ học thuật và tự chủ tổ chức; tăng cường trách nhiệm giải trình xã hội.

Về mô hình, luận án đề xuất áp dụng mô hình "Tài chính kết quả" (Performance-based funding) cho ĐHQG-HCM. Theo mô hình này, việc phân bổ ngân sách nhà nước và nguồn lực nội bộ ĐHQG-HCM cho các trường thành viên phải gắn chặt với chỉ số kết quả đầu ra (chất lượng đào tạo, số lượng công bố quốc tế, doanh thu chuyển giao công nghệ và mức độ hài lòng của doanh nghiệp tuyển dụng).

Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu:

  1. Hoàn thiện chủ trương, chính sách của Nhà nước: Rà soát, sửa đổi các rào cản về cơ chế phân bổ ngân sách, chính sách giá dịch vụ giáo dục và trần học phí.
  2. Hoàn thiện khung pháp lý về cơ chế tự chủ tài chính tại ĐHQG-HCM: Ban hành quy chế tài chính nội bộ đồng bộ, phân định rõ thẩm quyền tài chính giữa Ban Giám đốc ĐHQG-HCM và Hội đồng trường, Hiệu trưởng các cơ sở thành viên.
  3. Kiện toàn bộ máy tổ chức và nhân sự: Tinh gọn bộ máy quản lý, chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác tài chính, kế toán và quản trị tài sản tại các trường thành viên.
  4. Tăng cường huy động nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước: Đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, thành lập các doanh nghiệp trực thuộc trường, khai thác dịch vụ cơ sở vật chất dùng chung và thành lập quỹ phát triển từ nguồn đóng góp của cựu sinh viên, doanh nghiệp.

Luận án kết thúc bằng hệ thống các kiến nghị cụ thể gửi tới Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan và Ban lãnh đạo ĐHQG-HCM.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án tiếp cận nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính giáo dục đại học công lập dưới góc độ thực hiện sứ mệnh giáo dục, gia tăng lợi ích kinh tế - xã hội cho người học và cộng đồng, gắn liền quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình xã hội.
  2. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết Quản lý công mới và lý thuyết chia sẻ chi phí.
  3. Xác định nội hàm của cơ chế tự chủ tài chính bao gồm cả nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá cơ chế tự chủ tài chính gồm 5 tiêu chí tính chất (hiệu lực, hiệu quả, linh hoạt, ràng buộc, minh bạch) và 4 tiêu chí nội dung thực hiện (thu, chi, phân phối kết quả, quản lý tài sản).
  4. Phân tích, nhận diện các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập trong bối cảnh đổi mới quản lý công.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phân tích thực chứng toàn diện số liệu tài chính giai đoạn 2012–2017 tại ĐHQG-HCM, chỉ ra các kết quả đạt được về tăng trưởng nguồn lực cùng 4 hạn chế cơ bản: cơ chế chưa bảo đảm tính hiệu lực; thiếu văn bản quy định hướng dẫn chi tiết; một số quy định nội bộ của đơn vị thành viên chưa phù hợp với khung pháp lý nhà nước; cơ chế chưa bảo đảm tính hiệu quả tối ưu.
  2. Xác định 4 nhóm nguyên nhân cốt lõi gây ra hạn chế gồm: bất cập trong chính sách vĩ mô; khung pháp lý thiếu đồng bộ; hạn chế về bộ máy tổ chức, nhân sự; sự thụ động trong việc tạo nguồn thu ngoài ngân sách.
  3. Đề xuất quan điểm, định hướng và xác lập mô hình tự chủ tài chính phù hợp cho ĐHQG-HCM là mô hình "Tài chính kết quả".
  4. Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gồm: hoàn thiện cơ chế chính sách nhà nước; hoàn thiện khung pháp lý quản trị tài chính nội bộ ĐHQG-HCM; đổi mới tổ chức bộ máy và nhân lực; phát triển các kênh huy động nguồn thu ngoài ngân sách.
  5. Đề xuất hệ thống kiến nghị cụ thể đối với Chính phủ, các Bộ, Ngành và cơ quan quản lý ĐHQG-HCM nhằm tháo gỡ các rào cản thể chế, đẩy mạnh phân cấp tài chính gắn với trách nhiệm giải trình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Giới hạn dữ liệu thời gian: Dữ liệu định lượng và báo cáo tài chính của luận án dừng ở mốc thời gian 2012–2017; các định hướng và giải pháp được xây dựng cho tầm nhìn đến năm 2020.
  • Khung pháp lý chuyển tiếp: Luận án hoàn thành năm 2018, thời điểm Luật Giáo dục đại học sửa đổi (Luật số 34/2018/QH14) và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP chưa có hiệu lực thi hành, do đó các phân tích thể chế chủ yếu dựa trên Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP.
  • Phạm vi nghiên cứu sâu: Việc điều tra, khảo sát thực nghiệm tập trung vào các trường đại học thành viên ĐHQG-HCM và một số trường thí điểm khối kinh tế, kỹ thuật, chưa khảo sát mở rộng sang các trường thuộc khối y dược hay nghệ thuật.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính tại ĐHQG-HCM trong bối cảnh triển khai Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
  • Đo lường thực nghiệm tác động của mô hình "Tài chính kết quả" đến hiệu quả nghiên cứu khoa học và xếp hạng quốc tế của đại học bằng các mô hình kinh tế lượng định lượng.
  • Nghiên cứu cơ chế tự chủ quản trị tài sản công và mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng khu đô thị đại học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GD&ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực tế phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung các nghị định hướng dẫn tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập, hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra thay vì phân bổ theo bình quân dự toán.
  • Lãnh đạo ĐHQG-HCM và các cơ sở giáo dục đại học thành viên: Cung cấp khung đánh giá và các giải pháp thực tế để tái cấu trúc nguồn thu, đổi mới quy chế chi tiêu nội bộ, tối ưu hóa tài sản dùng chung và thiết kế cơ chế phân cấp tài chính nội bộ.
  • Lãnh đạo các trường đại học công lập trong cả nước: Cung cấp bài học kinh nghiệm từ mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP và các phương thức áp dụng chỉ số đa dạng hóa Simpson trong quản trị rủi ro tài chính.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp nguồn tổng quan tài liệu có hệ thống về tài chính giáo dục đại học, khung phân tích mô hình Quản lý công mới và bộ tiêu chí đánh giá mức độ tự chủ tài chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa nội hàm tự chủ tài chính trong cơ sở giáo dục đại học công lập như thế nào?

Luận án quan niệm tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập là quyền chủ động của đơn vị trong việc khai thác, tìm kiếm và sử dụng cả nguồn lực tiền tệ (ngân sách nhà nước, học phí, nguồn thu dịch vụ, tài trợ) và nguồn lực phi tiền tệ (tài sản, đất đai, cơ sở vật chất) phục vụ cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm bảo đảm các mục tiêu và chuẩn mực chất lượng đặt ra. Quyền tự chủ này bao gồm 4 nội dung: tự chủ thu, tự chủ chi, tự chủ phân phối kết quả tài chính (chênh lệch thu chi và trích lập các quỹ) và tự chủ quản lý, sử dụng tài sản công.

2. Luận án đề xuất mô hình tự chủ tài chính nào cho ĐHQG-HCM trong giai đoạn tiếp theo?

Luận án đề xuất mô hình "Tài chính kết quả" (Performance-based funding) – một trong 7 mô hình tài chính giáo dục đại học được tổng kết trên thế giới. Trong mô hình này, việc phân bổ ngân sách nhà nước và nguồn tài chính nội bộ của ĐHQG-HCM cho các trường thành viên không căn cứ vào dự toán chi tiêu đầu vào truyền thống mà gắn trực tiếp với các kết quả hoạt động cụ thể: số lượng và chất lượng chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định, tỷ lệ sinh viên có việc làm, quy mô các công trình công bố quốc tế, và doanh thu từ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.

3. Phương pháp định lượng nào được sử dụng để đánh giá cơ cấu nguồn thu trong luận án?

Luận án sử dụng chỉ số đa dạng hóa của Simpson để lượng hóa mức độ đa dạng hóa nguồn thu sự nghiệp của ĐHQG-HCM, với công thức: $$D = 1 - \sum_{i=1}^{s} P_i^2$$ Trong đó, $P_i$ là tỷ trọng của nguồn thu thứ $i$ trên tổng nguồn thu sự nghiệp, $s$ là số lượng các nguồn thu. Giá trị $D$ nằm trong khoảng từ 0 đến 1; giá trị càng tiến gần về 1 phản ánh mức độ đa dạng hóa nguồn thu càng cao, giúp giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một dòng thu đơn lẻ.

4. Bốn hạn chế chính trong cơ chế tự chủ tài chính tại ĐHQG-HCM được tác giả chỉ ra là gì?

Tác giả xác định 4 hạn chế chủ yếu:

  1. Cơ chế tự chủ tài chính chưa bảo đảm tính hiệu lực đầy đủ trong quá trình vận hành thực tế.
  2. Thiếu hệ thống văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan quản lý để hiện thực hóa cơ chế tài chính đặc thù của Đại học Quốc gia.
  3. Một số quy định, quy chế tài chính nội bộ của các cơ sở giáo dục đại học thành viên còn chưa tương thích với quy định của nhà nước.
  4. Cơ chế tự chủ tài chính chưa phát huy được tính hiệu quả cao trong việc tối ưu hóa chi phí và phát triển các nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước.

5. Luận án sử dụng dữ liệu sơ cấp từ những nguồn nào?

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp, trao đổi qua thư điện tử và điện thoại với các nhà quản lý, lãnh đạo phụ trách tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP của Chính phủ, cùng các nhà quản lý tại ĐHQG-HCM và các cơ sở giáo dục đại học thành viên trực thuộc ĐHQG-HCM.


Kết luận

Luận án "Cơ chế tự chủ tài chính tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Nguyễn Đình Hưng là công trình nghiên cứu kinh tế học phân tích có hệ thống về cơ chế tự chủ tài chính tại mô hình đại học hai cấp ở Việt Nam. Tác giả đã kết hợp lý thuyết Quản lý công mới và lý thuyết chia sẻ chi phí để xây dựng khung đánh giá toàn diện gồm 5 tiêu chí tính chất và 4 nội dung thực hiện tự chủ tài chính. Bằng việc phân tích chuỗi dữ liệu thực chứng giai đoạn 2012–2017, luận án đã làm rõ những thành tựu, các điểm nghẽn thể chế và nguyên nhân hạn chế của ĐHQG-HCM, từ đó đề xuất mô hình "Tài chính kết quả" cùng 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới cơ chế quản trị tài chính hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.