Cơ Chế Tài Chính Cho Hoạt Động Kinh Doanh Truyền Hình Trả Tiền (Pay-TV) Của Đài Truyền Hình Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEB phân tích cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền Pay TV của Đài Truyền hình Việt Nam.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Tác giả

Lê Chí Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2006

97
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Những đóng góp mới của luận văn

Kết cấu luận văn

1. Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRUYỀN HÌNH

1.1. Những vấn đề cơ bản về cơ chế tài chính

1.1.1. Cơ chế tài chính

1.1.2. Đổi mới cơ chế tài chính

1.2. Hoạt động kinh doanh truyền hình

1.2.1. Kỹ thuật truyền hình và các phương thức truyền dẫn

1.2.1.1. Kỹ thuật truyền hình
1.2.1.2. Phương thức truyền dẫn

1.2.2. Các hình thức kinh doanh truyền hình

1.2.2.1. Quảng cáo trên truyền hình
1.2.2.2. Truyền hình trả tiền (Pay-TV)

1.2.3. Kinh doanh truyền hình trả tiền trên thế giới và ở Việt Nam

1.3. Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình

1.3.1. Cơ chế tài chính được áp dụng như đối với các doanh nghiệp

1.3.2. Có sự chuyên môn hoá rõ rệt giữa sản xuất và phân phối chương trình

1.3.3. Nguồn thu cho hoạt động truyền hình phong phú, đa dạng

2. Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

2.1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam và cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình

2.1.1. Lịch sử ra đời; chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Đài Truyền hình Việt Nam

2.1.1.1. Lịch sử ra đời
2.1.1.2. Chức năng của Đài Truyền hình Việt Nam
2.1.1.3. Nhiệm vụ cơ bản của Đài Truyền hình Việt Nam
2.1.1.4. Tổ chức bộ máy của Đài Truyền hình Việt Nam

2.1.2. Sự ra đời và phát triển của hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

2.2. Thực trạng cơ chế tài chính của hoạt động truyền hình và truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

2.2.1. Quá trình hình thành cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình và truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

2.2.1.1. Quá trình hình thành cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình
2.2.1.2. Cơ chế tài chính của hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền

2.2.2. Những ưu điểm và hạn chế của cơ chế tài chính hiện hành đối với hoạt động truyền hình và truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

3. Chương 3: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PAY-TV CỦA ĐÀI THVN

3.1. Chiến lược phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam

3.1.1. Truyền hình Việt Nam trước thách thức của đời sống và thời đại

3.1.2. Chiến lược phát triển của Truyền hình Việt Nam đến năm 2010

3.2. Cơ hội, thách thức và chiến lược phát triển truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

3.2.1. Những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

3.2.1.1. Thách thức

3.2.2. Chiến lược phát triển truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

3.3. Xây dựng cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

3.3.1. Các quan điểm chỉ đạo để xây dựng cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

3.3.2. Xác định mô hình phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam trong tương lai và cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền

3.3.2.1. Mô hình phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam
3.3.2.2. Cơ chế tài chính của Trung tâm Truyền hình Cáp (VCTV)

3.3.3. Các điều kiện cần thiết để thực hiện cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình trả tiền

3.3.3.1. Điều kiện bên ngoài - sự hỗ trợ từ phía cơ quan chủ quản
3.3.3.2. Điều kiện bên trong - sự vận động, chuyển biến nội tại

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cơ Chế Tài Chính Cho Kinh Doanh Truyền Hình Trả Tiền Tại Việt Nam

Cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền (Pay-TV) tại Việt Nam đang trở thành một chủ đề nóng hổi trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của ngành truyền thông. Đài Truyền hình Việt Nam, với vai trò là đơn vị chủ lực, đã có những bước chuyển mình đáng kể trong việc áp dụng các cơ chế tài chính mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Cơ chế tài chính không chỉ ảnh hưởng đến doanh thu từ truyền hình trả tiền mà còn quyết định sự phát triển bền vững của ngành này trong tương lai.

1.1. Khái Niệm Cơ Chế Tài Chính Trong Kinh Doanh Truyền Hình

Cơ chế tài chính trong kinh doanh truyền hình được hiểu là hệ thống các hình thức, phương pháp và biện pháp tổ chức quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính. Điều này bao gồm việc xác định nguồn thu từ quảng cáo, phí thuê bao và các dịch vụ giá trị gia tăng khác.

1.2. Vai Trò Của Cơ Chế Tài Chính Đối Với Kinh Doanh Truyền Hình

Cơ chế tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự tự chủ tài chính cho các đơn vị truyền hình. Nó giúp các đơn vị này có khả năng đầu tư vào công nghệ mới, nâng cao chất lượng chương trình và mở rộng thị trường, từ đó gia tăng doanh thu và lợi nhuận.

II. Những Thách Thức Trong Cơ Chế Tài Chính Kinh Doanh Truyền Hình Trả Tiền

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng ngành truyền hình trả tiền tại Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Các vấn đề như cạnh tranh gay gắt, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và nhu cầu của người tiêu dùng đang đặt ra áp lực lớn lên các đơn vị kinh doanh. Đặc biệt, việc áp dụng cơ chế tài chính chưa đồng bộ và thiếu linh hoạt đã gây khó khăn cho các đơn vị trong việc phát triển bền vững.

2.1. Cạnh Tranh Trong Ngành Truyền Hình Trả Tiền

Sự gia tăng của các dịch vụ truyền hình trực tuyến và các nền tảng phát sóng khác đã tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các đơn vị truyền hình trả tiền cần phải có chiến lược rõ ràng để giữ chân khách hàng và tăng trưởng doanh thu.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Đổi Mới Cơ Chế Tài Chính

Việc đổi mới cơ chế tài chính trong ngành truyền hình trả tiền gặp nhiều khó khăn do sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp lý và sự chậm trễ trong việc áp dụng các chính sách mới. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tự chủ tài chính và sự phát triển của các đơn vị truyền hình.

III. Phương Pháp Hoàn Thiện Cơ Chế Tài Chính Cho Kinh Doanh Truyền Hình Trả Tiền

Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền, việc hoàn thiện cơ chế tài chính là rất cần thiết. Các phương pháp như cải cách quy trình quản lý tài chính, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tăng cường đào tạo nhân lực sẽ giúp các đơn vị truyền hình tối ưu hóa hoạt động của mình.

3.1. Cải Cách Quy Trình Quản Lý Tài Chính

Cải cách quy trình quản lý tài chính giúp các đơn vị truyền hình có thể theo dõi và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn. Việc áp dụng các phần mềm quản lý tài chính hiện đại sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực tài chính.

3.2. Đào Tạo Nhân Lực Trong Ngành Truyền Hình

Đào tạo nhân lực là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực quản lý tài chính. Các chương trình đào tạo chuyên sâu về tài chính và quản lý sẽ giúp nhân viên có kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện các quyết định tài chính hiệu quả.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Cơ Chế Tài Chính Trong Kinh Doanh Truyền Hình Trả Tiền

Việc áp dụng cơ chế tài chính hiệu quả trong kinh doanh truyền hình trả tiền đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các đơn vị truyền hình đã có thể tăng cường doanh thu, mở rộng thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ. Những ứng dụng thực tiễn này không chỉ giúp các đơn vị tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt.

4.1. Tăng Trưởng Doanh Thu Từ Dịch Vụ Truyền Hình Trả Tiền

Nhiều đơn vị truyền hình đã ghi nhận sự tăng trưởng doanh thu đáng kể nhờ vào việc áp dụng các cơ chế tài chính linh hoạt và hiệu quả. Việc phát triển các gói dịch vụ đa dạng đã thu hút được nhiều khách hàng hơn.

4.2. Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Truyền Hình

Cơ chế tài chính hợp lý đã giúp các đơn vị đầu tư vào công nghệ mới, từ đó nâng cao chất lượng chương trình và dịch vụ. Khán giả ngày càng hài lòng hơn với những gì mà truyền hình trả tiền mang lại.

V. Kết Luận Về Cơ Chế Tài Chính Cho Kinh Doanh Truyền Hình Trả Tiền Tại Việt Nam

Cơ chế tài chính cho kinh doanh truyền hình trả tiền tại Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Những thách thức và cơ hội đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới và cải cách. Để phát triển bền vững, các đơn vị truyền hình cần phải áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại và linh hoạt hơn.

5.1. Tương Lai Của Ngành Truyền Hình Trả Tiền

Ngành truyền hình trả tiền tại Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Việc áp dụng công nghệ mới và cải cách cơ chế tài chính sẽ là chìa khóa để mở ra những cơ hội mới cho ngành này.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ Từ Nhà Nước

Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp để tạo điều kiện cho ngành truyền hình trả tiền phát triển. Các chính sách này nên tập trung vào việc cải cách quy định pháp lý và hỗ trợ tài chính cho các đơn vị truyền hình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền pay tv của đài truyền hình việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình Chương 2: Thực trạng cơ chế tài chính cho hoạt động Truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam 11 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRUYỀN HÌNH 1. Những vấn đề cơ bản về cơ chế tài chính 1. Cơ chế tài chính Thuật ngữ Cơ chế, Cơ chế tài chính được sử dụng khá phổ biến trong những năm gần đây. Vậy, trước khi nói về Cơ chế tài chính, cần phải làm rõ: Cơ chế là gì? Từ "cơ chế" là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây.

Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau". Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình được thực hiện". “Cơ chế” được dùng với hàm ý chỉ hiện tượng ở trạng thái động chứ không phải ở trạng thái tĩnh, và con người hoạt động trong đó như là những chi tiết không thể thiếu của bộ máy quản lý. Con người tham gia thiết kế và vận hành cơ chế, song đến lượt nó lại bị cơ chế điều khiển, chứ không nằm ngoài cơ chế và điều khiển cơ chế.

Quan hệ giữa cơ chế với con người là quan hệ giữa cục bộ với toàn bộ. Cho nên nó không chỉ bao gồm những qui định về cách thức vận hành, mà còn bao gồm cả con người hoạt động theo những cách thức đã được định sẵn trong thiết kế cơ chế. Và chính hành động của tất cả con người cụ thể như thế tạo nên cơ chế như một bộ máy quản lý đang vận hành. Cần nhấn mạnh rằng cơ chế chỉ có thể vận hành theo những cách thức định sẵn, trong đó mỗi chi tiết, bộ phận phải đóng được vai trò của mình.

Chỉ cần một chi tiết, bộ phận hư hỏng hay kém chất lượng, sự vận hành của cơ chế sẽ lập tức trục trặc. Cho nên cơ chế tự nó có khả năng phát 12 hiện và đòi hỏi loại trừ những chi tiết, bộ phận không phù hợp với nó. Như vậy là chính con người tạo ra cơ chế và cũng chính con người lại phải tuân theo sự vận hành của nó. Cơ chế chỉ có thể vận hành một cách thông suốt nếu đó là một cơ chế hoàn hảo và mỗi chi tiết, bộ phận của cơ chế luôn phù hợp với nó.

Tài chính, về bản chất là một hệ thống phức tạp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối dưới hình thức giá trị các nguồn lực tài chính để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định của quá trình tái sản xuất xã hội. Về cơ chế tài chính, theo từ điển thuật ngữ Tài chính – tín dụng thì cơ chế tài chính được định nghĩa là “Hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp để tổ chức quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế quốc dân”. Phù hợp với quan niệm trên, đối với mỗi tổ chức hoặc chủ thể kinh tế, cơ chế tài chính được coi là hệ thống các hình thức, phương pháp để tổ chức quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của tổ chức hoặc chủ thể kinh tế. Có nghĩa là mỗi loại hình tổ chức đều tương ứng với một cơ chế tài chính nhất định được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật.

Cơ chế tài chính của cơ quan hành chính nhà nước khác cơ chế tài chính doanh nghiệp. Cơ chế tài chính của doanh nghiệp nhà nước lại khác doanh nghiệp tư nhân. Ngay doanh nghiệp nhà nước cũng có nhiều loại với những cơ chế tài chính khác nhau, ví dụ cơ chế tài chính cho tổng công ty nhà nước khác với công ty, khác với tập đoàn kinh tế v.v… Khái niệm cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu xuất hiện trong quá trình thực hiện tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công để hoạt động theo các cơ chế riêng, phù hợp, có hiệu quả. Và như vậy nó sẽ khác với cơ chế tài chính của cho các cơ quan hành chính nhà nước mà trước đây các cơ quan hành chính và cơ quan sự nghiệp thường được gộp làm một và gọi chung là các cơ quan hành chính sự nghiệp.

Đổi mới cơ chế tài chính Đổi mới cơ chế tài chính là hoạt động của chủ thể nhằm thay thế cơ chế tài chính cũ (đổi mới hình thức, phương pháp tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính) bằng một cơ chế mới khác hẳn và tiến bộ hơn nhằm khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ để phát huy tối đa mọi nguồn lực tài chính phục vụ cho sự phát triển lớn mạnh của chủ thể. Như vậy, đổi mới cơ chế tài chính là hết sức cần thiết, có thể nói là sống còn cho một chủ thể đang hoạt động, vận hành theo một cơ chế tài chính được coi là lạc hậu làm kìm hãm sự phát triển. Đổi mới cơ chế tài chính là một trong 4 nội dụng chính trong Chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2006- 2010. Đổi mới cơ chế tài chính phải được tiến hành đồng bộ ở tất cả các khu vực của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sự nghiệp, nơi có nhiều khả năng tự trang trải được kinh phí hoạt động để giảm nguồn ngân sách khổng lồ mà Nhà nước phải gánh hằng năm.

Chính vì vậy, tại Hội nghị ngành Tài chính triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng X và xây dựng dự toán NSNN năm 2007, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nhấn mạnh: “Đẩy mạnh xã hội hoá, đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với khu vực sự nghiệp là khâu đột phá quan trọng để huy động nguồn lực xã hội cùng với tăng nguồn lực từ Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hoá, thể thao. và là tiền đề để cải cách tiền lương”. Hoạt động kinh doanh truyền hình 1. Kỹ thuật truyền hình và các phương thức truyền dẫn Kỹ thuật truyền hình và các phương thức truyền dẫn tín hiệu truyền hình có ảnh hưởng quyết định đến hình thức kinh doanh truyền hình.

Vì 14 vậy việc xác định chiến lược kinh doanh truyền hình trả tiền nhất định phải căn cứ vào chiến lược phát triển truyền hình, trong đó xu hướng phát triển kỹ thuật cũng như việc lựa chọn phương thức truyền dẫn là yếu tố quyết định. Kỹ thuật truyền hình: Các chương trình mà khán giả cả nước có thể xem được hằng ngày trên truyền hình là kết quả và sự kết hợp của hai khâu cơ bản nhất của truyền hình là Sản xuất chương trình và Truyền dẫn phát sóng. Các chương trình được các phóng viên thu thập, ghi hình tại hiện trường, hoặc trường quay (giai đoạn tiền kỳ) sau đó được dựng hình, lồng tiếng, kỹ xảo (giai đoạn hậu kỳ) tạo ra sản phẩm truyền hình và kết thúc khâu sản xuất ở trung tâm kỹ thuật sản xuất chương trình. Các sản phẩm truyền hình được chuyển thành tín hiệu truyền hình số (digital) hoặc tương tự (analog), phát sóng từ máy phát mặt đất (truyền hình quảng bá), trực tiếp từ vệ tinh (DTH), hoặc hệ thống cáp (truyền hình cáo) đến máy thu hình của người xem với phạm vi, khoảng cách tùy thuộc vào hệ thống truyền dẫn phát sóng và kết thúc khâu này khi máy thu hình nhận được tín hiệu truyền hình.

Ở khâu sản xuất chương trình, hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đang ứng dụng mạnh mẽ kỹ thuật số (digital). Các thiết bị sản xuất chương trình kỹ thuật số có ưu điểm là thực hiện được nhiều kỹ xảo phức tạp, tạo ra hình ảnh và âm thanh trung thực, sinh động lại gọn, nhẹ, dễ thao tác, chi phí thấp và có thể ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình sản xuất. Việc thay thế và nâng tỷ trọng thiết bị kỹ thuật số trong dây chuyền sản xuất đơn giản, không ảnh hưởng đến việc thu xem của người dân vì nó chỉ xảy ra ở khâu sản xuất, trong phạm vi một đài truyền hình và có thể tiến hành từng phần. Chính vì vậy, đến thời điểm này, Đài Truyền hình Việt Nam đã thay thế gần hết các thiết bị trong dây chuyền sản xuất của mình bằng các thiết bị sản xuất kỹ thuật số và có kế hoạch số hoá toàn bộ thiết bị 15 sản xuất trong vài năm tới.

Trung tâm sản xuất mới của Đài Truyền hình Việt Nam do Chính phủ Nhật Bản viện trợ trị giá hơn 300 triệu USD sẽ sử dụng 100% thiết bị kỹ thuật số. Ngược lại, ở khâu truyền dẫn phát sóng, phổ biến ở Việt Nam và cả thế giới hiện nay vẫn sử dụng kỹ thuật tương tự. Từ vài năm nay, Công ty VTC thuộc thuộc Đài Truyền hình Việt Nam (nay đã chuyển về Bộ Bưu chính Viễn thông) đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật số ở khâu truyền dẫn phát sóng gọi là Truyền hình kỹ thuật số VTC. Tuy nhiên, đây chỉ là bước thử nghiệm để theo dần kỹ thuật truyền hình thế giới và phạm vi thử nghiệm cũng chỉ ở khâu máy phát sóng, còn máy thu hình của người xem vẫn là máy analog nên phải có thiết bị giải mã kèm theo với chất lượng chưa đạt yêu cầu so với tiêu chuẩn truyền hình số thế giới (dừng hình, lệch tiếng.

Lộ trình ứng dụng truyền hình số ở Việt Nam còn lâu dài, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Để ứng dụng truyền hình kỹ thuật số một cách đồng bộ, phải thay đổi toàn bộ hệ thống thiết bị cả ở khâu sản xuất và truyền dẫn phát sóng với mạng lưới hàng trăm máy phát hình trên cả nước từ kỹ thuật analog sang số với chi phí ước tính hàng tỷ USD. Quan trọng hơn là toàn bộ máy thu hình của người xem cũng phải là máy thu hình kỹ thuật số với giá hàng nghìn dollar/1 chiếc. Với 10 triệu máy thu hình hiện nay nếu được thay toàn bộ bằng máy thu hình kỹ thuật số thì chi phí xã hội cho việc chuyển đổi này sẽ là hàng chục tỷ dollar.

Ngay cả những nước giàu có như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc. còn đặt ra lộ trình ứng dụng truyền hình số kéo dài hàng chục năm nữa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ