DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ BHCD Bảo hộ công dân CCPLBHCD Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân NNPQ Nhà nước pháp quyền BTNN Bồi thường nhà nước TNBTNN Trách nhiệm bồi thường nhà nước TGPL Trợ giúp pháp lý UBTVQH Ủy ban thường vụ Quốc hội VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật TATC Tòa án nhân dân tối cao TAND Tòa án nhân dân VKSTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC BẢNG STT BẢNG, HỘP 1. Phân biệt bảo vệ, bảo đảm, bảo hộ (Phụ lục) 2. Quy định về bảo hộ qua các bản Hiến pháp (Phụ lục) MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân luôn là vấn đề trung tâm trong đời sống chính trị ở bất kỳ quốc gia nào. Việc thiết lập các cơ chế để thúc đẩy và hoàn thiện mối quan hệ này, vì vậy, cũng luôn là những nội dung được quan tâm hàng đầu về lý thuyết lẫn thực tiễn. Trong đó, cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam hiện nay là một chủ đề nghiên cứu mang tính thời sự vì các lý do chính sau đây: Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu về tính chính đáng của Nhà nước trong trật tự Nhà nước pháp quyền Trong thời đại ngày nay, sự phát triển các giá trị văn minh, dân chủ dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong nhận thức về vai trò, chức năng của Nhà nước hiện đại, đánh dấu bằng sự chuyển đổi mô hình Nhà nước từ cai trị, điều hành sang Nhà nước phục vụ, Nhà nước kiến tạo – phát triển… Một Nhà nước được thừa nhận có tính chính đáng chỉ khi đáp ứng được những quan niệm, mong đợi trong con mắt của đa số nhân dân về chính quyền cần có. Lúc này, Nhà nước không còn ở vị trí đứng trên, ban ơn, trao quyền cho dân chúng, mà có mối quan hệ bình đẳng, tương hỗ, đồng trách nhiệm với công dân trước pháp luật, chủ động và tích cực hơn trong việc thực hiện chức trách của mình trước công dân. Bên cạnh đó, những vận động nội tại trong xã hội hiện đại cũng làm xuất hiện và gia tăng các nguy cơ gây cản trở, xâm hại đến quyền con người, quyền công dân. Trước những nguy cơ này, yêu cầu về tính chính đáng của Nhà nước lại càng đặt ra các đòi hỏi gắt gao đối với việc phải thiết lập chế độ pháp lý đầy đủ, thích đáng và hiệu quả hơn các cơ chế hiện có, nhằm ràng buộc hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền, lợi ích của công dân, tạo điều kiện, bảo đảm cho người dân thực thi một cách hiệu quả hơn các quyền cơ bản của mình. Một trong những cơ chế pháp lý có thể đáp ứng những yêu cầu này chính là cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân. Thứ hai: xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhu cầu đảm bảo và phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong quá trình hội nhập và phát triển của Việt Nam 1 Quá trình xây dựng NNPQ, đẩy mạnh và phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ và phát huy quyền con người trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam đã và đang đặt ra yêu cầu phải xây dựng, hoàn thiện hơn nữa mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, thiết lập vị thế bình đẳng, hợp tác giữa hai chủ thể thông qua những cơ chế pháp lý thiết thực và hiệu quả. Tính thượng tôn pháp luật trong Nhà nước pháp quyền cũng đòi hỏi việc thiết lập một cơ chế bảo hộ dựa trên các nền tảng pháp lý vững chắc như sự cam kết về trách nhiệm từ phía Nhà nước đối với người dân nhằm kiến tạo môi trường để họ có thể chủ động, tích cực hơn khi sử dụng, bảo vệ các quyền cơ bản của mình. Thứ ba, xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo hộ pháp lý đối với công dân. Trong thời gian qua, một loạt các văn kiện quan trọng của Đảng đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân như: tiến hành cải cách tư pháp, xây dựng và vận hành cơ chế bồi thường nhà nước, xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp…Đặc biệt, Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị (ngày 24/5/2005) về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo hộ công dân1. Về mặt pháp lý, có thể thấy vấn đề bảo hộ pháp lý đối với công dân ở nước ta đã được thể hiện từ trong tinh thần Hiến pháp năm 1946 và các quy định cụ thể về bảo hộ trong các bản Hiến pháp từ năm 1959 đến nay và tiếp tục được thể chế hoá trong Hiến pháp năm 2013. Đây có thể xem là những nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc đồng thời cũng đặt ra yêu cầu bức thiết phải làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân – vốn là một chủ đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Thứ tư, xuất phát từ tư tưởng lập hiến của thời đại trong Hiến pháp năm 2013 Nội dung sửa đổi được cho là quan trọng nhất của Hiến pháp năm 2013 chính là việc thông qua các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương II. Bên cạnh đó, cũng cần phải kể đến các quy định trực tiếp về vấn đề bảo hộ công dân rải rác tại mười (10) điều khoản khác nhau trong Hiến pháp hiện 1 Nghị quyết số 48/NQ-TW đã chỉ rõ yêu cầu: “Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”. Sự kiện này đặt ra những yêu cầu cấp bách về việc tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, trong đó có nội dung quan trọng là cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam. Thứ năm, xuất phát từ những hạn chế về nhận thức, lý luận và thực tiễn về cơ chế pháp lý bảo hộ công dân ở Việt Nam Về nhận thức, các quan niệm ở Việt Nam về bảo hộ công dân lâu nay mới chỉ được giới hạn trong phạm vi bảo hộ công dân ở nước ngoài (bảo hộ thông qua hoạt động lãnh sự, ngoai giao) mà ít chú ý đến bảo hộ công dân trong nước. Việc bảo vệ quyền công dân, quyền con người từ phía Nhà nước vẫn dừng ở mức thụ động, áp dụng các biện pháp bảo vệ khi quyền và lợi ích của công dân bị ảnh hưởng hoặc xâm phạm. Bên cạnh đó, trên thực tế, do nhận thức về những quyền cơ bản, quyền con người còn chưa đầy đủ nên việc xác lập cơ chế bảo hộ ở tầm Hiến pháp đối với những quyền này từ phía Nhà nước vẫn chưa được quan tâm thích đáng. Chúng ta mới tư duy về “bảo vệ” hoặc “bảo đảm” quyền con người, quyền công dân mà chưa thật sự quan tâm đến “bảo hộ”. Thuật ngữ “bảo hộ” trong “cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân” vẫn còn hết sức mới mẻ, thậm chí xa lạ đối với nhiều người. Thực tiễn nhận thức này dẫn tới việc thiếu vắng những nền tảng lý thuyết vững chắc cho việc bảo hộ công dân ở Việt Nam, do đó, việc ghi nhận và điều chỉnh cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam cũng còn khá mờ nhạt, chưa mang tính hệ thống. Về tình hình nghiên cứu, có thể thấy trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay, bảo hộ công dân trong nước cũng như cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam chưa thật sự được chú ý nhiều. Các nghiên cứu mới chỉ dừng ở những khía cạnh riêng biệt của cơ chế pháp lý bảo hộ công dân như: bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. mà chưa có nghiên cứu nào liên quan trực tiếp đến nội dung cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở nước ta. 2 Các quy định tập trung vào các quyền: quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được bảo hộ sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền sở hữu tư nhân và thừa kế, quyền về hôn nhân và gia đình, quyền sử dụng đất (Xem Phụ lục). 3 Từ những lí do trên, có thể thấy rằng việc nghiên cứu, làm rõ một cách có hệ thống và cơ bản các vấn đề lý luận và thực tiễn của cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam là hết sức cần thiết trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN, hội nhập, phát triển ở nước ta hiện nay. Đây cũng chính là lý do Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài Luận án tiến sĩ: “Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam”. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân (viết tắt: CCPLBHCD) ở Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau: Thứ nhất, nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về CCPLBHCD trong trật tự NNPQ; Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về CCPLBHCD ở Việt Nam và thực tiễn vận hành CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay; Thứ ba, đề xuất và luận chứng các giải pháp xây dựng và hoàn thiện CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của Luận án gồm: Các quan điểm, tư tưởng về bảo hộ công dân (BHCD) và CCPLBHCD, kinh nghiệm thế giới về CCPLBHCD; các quy định pháp luật và thực tiễn vận hành CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu Đề tài Luận án có nội dung trải rộng trên nhiều lĩnh vực.
Cơ Chế Pháp Lý Bảo Hộ Công Dân Ở Việt Nam: Nghiên Cứu Từ Luận Án Tiến Sĩ Luật Học
Luận án tiến sĩ luật học phân tích cơ chế pháp lý bảo hộ công dân tại Việt Nam, đóng góp quan trọng cho hệ thống pháp luật hiện hành.
Phí lưu trữ
45 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Chuyên ngành: Luật học
Đề tài: Cơ chế pháp lý bảo hộ công dân tại Việt Nam
Loại tài liệu: luận án tiến sĩ
Luận án tiến sĩ luật học với tiêu đề Cơ chế pháp lý bảo hộ công dân tại Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi và an toàn cho công dân trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các cơ chế hiện hành mà còn chỉ ra những điểm mạnh và hạn chế trong việc thực thi các quy định này. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức mà pháp luật có thể bảo vệ quyền con người, từ đó nâng cao nhận thức và hiểu biết về quyền lợi của mình trong xã hội.
Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm bảo vệ quyền con người ở việt nam hiện nay, nơi phân tích vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ quyền con người bằng các quy định về xóa án tích trong luật hình sự việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định liên quan đến việc xóa án tích và tác động của nó đến quyền lợi của công dân. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ các quyền con người bằng chế định về đồng phạm trong bộ luật hình sự năm 2015 trên cơ sở thực tiễn xét xử tại tỉnh đắk lắk giai đoạn 20182022 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức bảo vệ quyền con người thông qua các quy định về đồng phạm trong luật hình sự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về cơ chế pháp lý bảo vệ công dân tại Việt Nam.
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ