Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu tiếp cận và thụ hưởng các sản phẩm văn học nghệ thuật của công chúng ngày càng gia tăng, trong đó tác phẩm điện ảnh là loại hình thu hút lượng lớn khán giả theo dõi. Việc chuyển quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh cho các tổ chức phát sóng là phương thức khai thác giá trị kinh tế mà không làm chấm dứt quyền sở hữu của chủ thể quyền. Về phía đài truyền hình, phương thức này giúp bảo đảm nguồn phim phát sóng phong phú, tối ưu hóa ngân sách so với việc tự đầu tư sản xuất toàn bộ nội dung. Trước thời điểm nghiên cứu, các công trình học thuật trong nước chủ yếu tập trung vào bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (Nguyễn Thị Phương Hảo, 2002; Trương Trần Anh Thư, 2013), mỹ thuật ứng dụng (Nguyễn Trung Trực, 2002), chương trình máy tính (Huỳnh Thành Nhân, 2005; Võ Thị Hoàng Anh, 2007), tác phẩm kiến trúc (Đoàn Trần Diễm My, 2008), tác phẩm báo chí (Võ Thu Trang, 2009), hoặc hợp đồng sử dụng tác phẩm nói chung (Nguyễn Hoàng Giao, 2004). Khía cạnh chuyển quyền sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh phát sóng trên truyền hình chưa được khảo cứu độc lập và hệ thống.
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Nguyễn Mai Anh (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2014) xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ các vấn đề lý luận về quyền tác giả và chế định chuyển quyền sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh phát sóng trên truyền hình;
- Khảo cứu thực tiễn áp dụng hoạt động chuyển quyền sử dụng quyền tác giả đối với phim truyện Việt Nam và phim truyện nước ngoài tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phân tích các tồn tại, bất cập trong việc bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi chuyển quyền sử dụng để phát sóng;
- Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển quyền sử dụng quyền tác giả trong lĩnh vực truyền hình.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quan hệ pháp luật và hoạt động thực tiễn về chuyển quyền sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh phát sóng trên truyền hình. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn vào thể loại phim truyện phát sóng trên sóng truyền hình (phim truyện truyền hình) tại Việt Nam, trọng tâm khảo sát thực tế là hoạt động khai thác bản quyền tại hai kênh truyền hình quảng bá HTV7 và HTV9 thuộc Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2013, kết hợp dữ liệu phát sóng tuần từ ngày 09/06/2014 đến ngày 15/06/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm pháp lý, lý thuyết quyền sở hữu trí tuệ và hệ thống văn bản pháp luật thực định trong nước và quốc tế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn và đối chiếu gồm có:
- Điều ước quốc tế: Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886 (Việt Nam gia nhập ngày 26/07/2004, có hiệu lực từ ngày 26/10/2004), Công ước toàn cầu về bản quyền;
- Pháp luật nước ngoài mang tính so sánh: Luật của Nữ hoàng Anne (Anh), Luật Quyền tác giả Hoa Kỳ (Điều 101, 102), Luật Quyền tác giả Nhật Bản (Điều 10, 17, 18, 19, 20, 21-28, 29), Luật Bản quyền Liên bang Thụy Sỹ (Điều 2), quy định pháp luật của Áo năm 1936;
- Pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 1992 (Điều 60), Hiến pháp năm 2013 (Điều 62); Bộ luật Dân sự năm 1995 (Phần thứ sáu, Điều 745 đến Điều 779), Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 163, 181, 736, 738, 739, 740, 742, 743); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Điều 6, 18, 19, 20, 21, 27, 39, 45, 47, 48), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 (Luật số 36/2009/QH12); Luật Điện ảnh năm 2006 (Điều 4); Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999; Luật Quảng cáo năm 2012; Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả năm 1994;
- Văn bản dưới luật: Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL ngày 03/09/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, Nghị định số 85/2011/NĐ-CP, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP, Nghị định số 51/2002/NĐ-CP, Nghị định số 61/2002/NĐ-CP, Nghị định số 131/2013/NĐ-CP; Quyết định số 01/2000/QĐ-BVHTT ngày 06/01/2000 của Bộ Văn hóa - Thông tin; Quyết định số 15/2007/QĐ-UBND ngày 02/02/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Quyết định số 148/QĐ-TH ngày 11/02/2014 của Tổng Giám đốc Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu các quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử cũng như giữa các hệ thống pháp luật (Thông luật và Dân luật) để làm rõ bản chất của hợp đồng li-xăng quyền tác giả. Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp thu thập, thống kê và tổng hợp số liệu thực tiễn hoạt động mua bản quyền phim tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được cung cấp bởi Ban Chương trình, Ban Khai thác phim truyền hình thuộc Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các báo cáo chuyên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận về chuyển quyền sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh phát sóng trên truyền hình
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác phẩm điện ảnh, quyền tác giả và giao dịch chuyển quyền sử dụng quyền tác giả. Nội dung chương tập trung giải quyết các vấn đề pháp lý nền tảng:
- Khái niệm và đặc điểm tác phẩm điện ảnh: Tác phẩm điện ảnh là sản phẩm nghệ thuật biểu hiện bằng hình ảnh động kết hợp âm thanh theo ngôn ngữ điện ảnh (Khoản 2 Điều 4 Luật Điện ảnh 2006). Tác phẩm hoàn chỉnh đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể sáng tạo (đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, âm thanh, ánh sáng, đạo cụ, kỹ xảo). Phim truyện truyền hình là thể loại tiếp cận công chúng thông qua sóng truyền hình, định hình trên các vật liệu ghi hình từ tính hoặc kỹ thuật số.
- Cơ cấu quyền tác giả: Gồm quyền nhân thân (Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005) và quyền tài sản (Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005). Tác giả so sánh hai trường phái pháp lý: hệ thống Anh - Mỹ (Copyright) chú trọng khía cạnh tài sản và quyền sao chép thương mại; hệ thống Pháp - Đức (Droit d’auteur) đề cao quyền nhân thân và thế giới tinh thần của tác giả.
- Chủ thể và phạm vi hưởng quyền đối với tác phẩm điện ảnh: Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Điều 21, Điều 39) và Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL (Điều 19) phân định rõ: tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật (nhà sản xuất) là chủ sở hữu quyền tác giả, nắm giữ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm; những người trực tiếp tham gia sáng tạo hợp thành "tập thể tác giả", mỗi người chỉ thụ hưởng quyền nhân thân (đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn) đối với phần sáng tạo riêng biệt của mình, không còn áp dụng cơ chế "đồng tác giả" theo sở hữu chung hợp nhất như quy định tại Điều 758 Bộ luật Dân sự 1995. Thời hạn bảo hộ quyền tài sản và quyền công bố là 75 năm kể từ ngày công bố lần đầu, hoặc 100 năm kể từ ngày tác phẩm được định hình nếu chưa công bố trong 25 năm đầu (Khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009).
- Bản chất pháp lý của chuyển quyền sử dụng quyền tác giả: Khoản 1 Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 xác định chuyển quyền sử dụng là việc chủ sở hữu cho phép chủ thể khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm. Khóa luận phân biệt rành mạch giữa chuyển quyền sử dụng (chỉ chuyển quyền khai thác tạm thời thông qua hợp đồng li-xăng, không thay đổi chủ sở hữu) và chuyển nhượng quyền tác giả theo Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (chuyển giao vĩnh viễn quyền sở hữu tài sản trí tuệ).
- Đặc thù trong hợp đồng phát sóng truyền hình: Quan hệ chuyển giao mang tính song vụ, ưng thuận, có đền bù, đối tượng chuyển giao là tài sản vô hình. Bên nhận quyền (đài truyền hình) có nghĩa vụ trả tiền bản quyền, không được tự ý chuyển quyền cho bên thứ ba nếu không được đồng ý (Khoản 4 Điều 47). Đặc biệt, bên nhận quyền được quyền chỉnh sửa, cắt xén, làm mờ các cảnh quay bạo lực, khiêu dâm hoặc vi phạm pháp luật quảng cáo để đáp ứng tiêu chuẩn kiểm duyệt của Luật Báo chí mà không bị coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
Chương 2: Thực tiễn chuyển quyền sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh phát sóng trên truyền hình – Hạn chế và kiến nghị
Chương 2 phản ánh thực tế hoạt động chuyển quyền sử dụng quyền tác giả tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đối với hai kênh HTV7 và HTV9:
- Tỷ lệ thời lượng phát sóng phim truyện: Theo số liệu của Ban Chương trình tuần từ ngày 09/06/2014 đến ngày 15/06/2014, thời lượng phát sóng phim truyện trung bình ngày chiếm 46% tổng thời lượng phát sóng trên kênh giải trí HTV7 và chiếm 15% trên kênh thông tin chính luận HTV9.
- Quy trình mua bản quyền phát sóng: Gồm 8 bước khép kín: (1) Chào giá và cung cấp thông tin, demo, giấy chứng nhận bản quyền; (2) Thẩm định nội dung, chỉ số người xem (rating), kinh phí; (3) Chào giá lại và thương thuyết giá; (4) Trình Ban Tổng giám đốc phê duyệt; (5) Ký kết hợp đồng chuyển quyền; (6) Giao chương trình băng/đĩa gốc; (7) Thẩm định kỹ thuật và in sang chương trình phát sóng; (8) Hoàn trả băng/đĩa gốc cho đối tác.
- Thực tiễn khai thác phim truyện Việt Nam: Nguồn phim phát sóng được cung cấp từ việc tự sản xuất (thông qua Hãng phim truyền hình TFS), liên kết sản xuất xã hội hóa (theo Quyết định số 148/QĐ-TH) hoặc mua bản quyền từ 223 hãng phim tư nhân (số liệu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2013). Giai đoạn 2001 - 2005 ghi nhận lượng mua bản quyền cao (từ 18 đến 45 phim/năm) do TFS chưa đáp ứng đủ dung lượng phát sóng. Giai đoạn 2006 - 2013, lượng phim mua bản quyền giảm xuống mức trung bình 14 - 15 phim/năm do sự phát triển của mô hình hợp tác xã hội hóa sản xuất phim.
- Thực tiễn khai thác phim truyện nước ngoài: Toàn bộ nguồn phim nước ngoài được hình thành từ việc mua bản quyền phát sóng thông qua các đại lý truyền thông (như Kiết Tường, TKL media, Thiên Nam An, Sóng Vàng, Sena film, Vietcom) theo quy định tại Quyết định số 01/2000/QĐ-BVHTT. Hoạt động này trải qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 2001 - 2005: Quy mô khiêm tốn do chủ trương ưu tiên phát sóng phim nội địa (thấp nhất 61 phim năm 2001);
- Giai đoạn 2006 - 2009: Giai đoạn bùng nổ mạnh nhất với mức mua trung bình 180 phim/năm, đạt đỉnh 199 phim vào năm 2007, bắt nguồn từ định hướng mở rộng giao lưu văn hóa theo Văn kiện Đại hội X của Đảng;
- Giai đoạn 2010 - 2013: Mức mua bản quyền chững lại (dao động từ 111 đến 145 phim/năm) do các khung giờ phim truyện phải chia sẻ thời lượng cho các chương trình truyền hình thực tế (như Vietnam Idol, So You Think You Can Dance, The Winner Is, Hành trình kết nối những trái tim).
Dưới đây là bảng tổng hợp số lượng phim truyện được mua bản quyền phát sóng tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2013:
| Năm |
Số lượng phim Việt Nam (phim) |
Số lượng phim nước ngoài (phim) |
Tổng số phim mua bản quyền (phim) |
| 2001 |
45 |
61 |
106 |
| 2002 |
38 |
90 |
128 |
| 2003 |
28 |
80 |
108 |
| 2004 |
31 |
110 |
141 |
| 2005 |
18 |
132 |
150 |
| 2006 |
15 |
184 |
199 |
| 2007 |
21 |
199 |
220 |
| 2008 |
10 |
162 |
172 |
| 2009 |
9 |
179 |
188 |
| 2010 |
18 |
111 |
129 |
| 2011 |
17 |
138 |
155 |
| 2012 |
11 |
123 |
134 |
| 2013 |
16 |
145 |
161 |
(Nguồn số liệu: Ban Khai thác phim truyền hình Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh)
- Bất cập và định hướng hoàn thiện: Tác giả phân tích các xung đột pháp lý giữa quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm của tác giả với quyền biên tập xử lý nội dung của đài truyền hình theo Luật Báo chí; vướng mắc trong việc thanh toán nhuận bút cho từng thành viên trong tập thể tác giả; và kiến nghị xây dựng khung pháp lý cụ thể hóa các điều khoản mẫu cho hợp đồng li-xăng phim truyền hình.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc tổng hợp các dữ liệu thực chứng và lập luận pháp lý:
- Hệ thống hóa toàn bộ chuỗi quy trình giao dịch bản quyền phim 8 bước trong hoạt động tác nghiệp thực tế của đài truyền hình cấp tỉnh/thành phố, từ khâu chào giá ban đầu đến khâu thẩm định kỹ thuật và hoàn trả băng mẫu;
- Cung cấp chuỗi dữ liệu thống kê liên tục trong 13 năm (2001 - 2013) về số lượng phim mua bản quyền phát sóng tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu chứng minh sự chênh lệch lớn giữa mảng phim nước ngoài (lập đỉnh 199 phim năm 2007, thấp nhất 61 phim năm 2001) và mảng phim trong nước (cao nhất 45 phim năm 2001, thấp nhất 9 phim năm 2009);
- Làm rõ cơ chế pháp lý về quyền biên tập nội dung phát sóng: Xác định căn cứ theo Luật Báo chí cho phép đài truyền hình cắt bỏ, làm mờ hình ảnh bạo lực, vi phạm thuần phong mỹ tục hoặc vi phạm pháp luật quảng cáo mà không cấu thành hành vi xâm hại quyền nhân thân của tác giả;
- Đóng góp học thuật: Khóa luận là công trình tiên phong tiếp cận trực diện vấn đề chuyển quyền sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh phát sóng truyền hình tại Việt Nam, khắc phục khoảng trống của các đề tài trước đó vốn chỉ tập trung vào âm nhạc, báo chí, kiến trúc hoặc phần mềm máy tính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được xác định từ phạm vi khảo sát thực tế:
- Về loại hình tác phẩm: Đề tài giới hạn khảo sát ở thể loại phim truyện phát sóng trên truyền hình, chưa mở rộng nghiên cứu sang các loại hình tác phẩm nghe nhìn phát sóng khác như phim tài liệu, phim khoa học hay chương trình truyền hình có yếu tố kịch bản điện ảnh;
- Về địa bàn và phương thức truyền dẫn: Dữ liệu thực tiễn chủ yếu tập trung tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và giới hạn trên hai kênh truyền hình quảng bá (HTV7, HTV9). Khóa luận chưa bao quát các đài truyền hình địa phương khác, mạng lưới truyền hình trả tiền và các kênh truyền hình chuyên biệt;
- Hướng mở tiếp theo: Nghiên cứu hoạt động chuyển quyền sử dụng tác phẩm điện ảnh trên môi trường truyền hình kỹ thuật số, truyền hình theo yêu cầu (VOD) và hạ tầng mạng internet trước tác động của hội nhập thương mại quốc tế.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Thương mại: Khóa luận cung cấp tài liệu phân tích sâu sắc về sự khác biệt giữa chuyển nhượng và chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, cùng cơ chế bảo hộ đối với "tập thể tác giả" theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005;
- Chuyên viên pháp chế, biên tập viên tại các cơ quan phát thanh - truyền hình: Hữu ích trong việc áp dụng quy trình 8 bước thẩm định bản quyền, soạn thảo và đàm phán hợp đồng mua bán bản quyền phát sóng;
- Các nhà sản xuất phim và đơn vị kinh doanh bản quyền truyền thông (media agency): Cung cấp hiểu biết pháp lý về quyền tài sản, nghĩa vụ nộp lưu chiểu và điều kiện chuyển quyền sử dụng tác phẩm cho bên thứ ba.
Câu hỏi thường gặp
Tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia sáng tạo tác phẩm điện ảnh được pháp luật Việt Nam xác định như thế nào?
Theo Khoản 1 Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Điều 19 Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL, các cá nhân tham gia sáng tạo (đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, âm nhạc, thiết kế mỹ thuật...) được xác định là "tập thể tác giả", không phải là "đồng tác giả" như quy định tại Điều 758 Bộ luật Dân sự 1995. Mỗi cá nhân chỉ nắm giữ quyền nhân thân đối với phần sáng tạo độc lập của mình mà không sở hữu chung toàn bộ tác phẩm điện ảnh.
Đài truyền hình có quyền cắt xén hoặc biên tập tác phẩm điện ảnh đã mua bản quyền phát sóng không?
Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí và Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 51/2002/NĐ-CP, phim truyện phát sóng trên truyền hình là một dạng báo hình chịu sự điều chỉnh của pháp luật báo chí. Biên tập viên đài truyền hình có quyền cắt bỏ, chỉnh sửa hoặc làm mờ các cảnh quay có tính chất bạo lực, đồi trụy hoặc vi phạm pháp luật quảng cáo nhằm đảm bảo định hướng tư tưởng và trật tự công cộng mà không cần sự đồng ý của tác giả, miễn là không làm sai lệch nội dung cơ bản của tác phẩm.
Sự khác nhau cốt lõi giữa chuyển nhượng quyền tác giả và chuyển quyền sử dụng quyền tác giả là gì?
Theo Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chuyển nhượng quyền tác giả là việc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu vĩnh viễn đối với các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm cho bên nhận chuyển nhượng. Ngược lại, theo Khoản 1 Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chuyển quyền sử dụng chỉ cho phép bên thứ ba khai thác có thời hạn các quyền này thông qua hợp đồng li-xăng mà không làm thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả.
Xu hướng biến động số lượng phim truyện mua bản quyền tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2013 diễn biến ra sao?
Số lượng phim nước ngoài luôn chiếm ưu thế vượt trội (từ 61 đến 199 phim/năm) so với phim Việt Nam (từ 9 đến 45 phim/năm). Phim nước ngoài đạt mức cao nhất vào năm 2007 (199 phim) và giảm nhẹ trong giai đoạn 2010 - 2013 do nhường thời lượng cho chương trình truyền hình thực tế. Phim Việt Nam giảm dần từ mức 45 phim (năm 2001) xuống 9 phim (năm 2009) trước khi duy trì ổn định quanh mức 16 - 18 phim/năm nhờ sự phát triển của mô hình liên kết xã hội hóa sản xuất phim.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh được quy định cụ thể như thế nào?
Căn cứ Khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009, thời hạn bảo hộ quyền nhân thân gắn với tài sản (quyền công bố) và quyền tài sản của tác phẩm điện ảnh là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Trường hợp tác phẩm chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi định hình, thời hạn bảo hộ là 100 năm tính từ thời điểm định hình.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Mai Anh đã phân tích hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển quyền sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh phát sóng trên truyền hình tại Việt Nam. Thông qua dữ liệu thực tiễn 13 năm (2001 - 2013) tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, công trình làm rõ sự vận hành của quy trình thẩm định bản quyền 8 bước cùng sự dịch chuyển cơ cấu nguồn phim giữa phim nội địa và phim nhập khẩu. Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế điều chỉnh xung đột giữa quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác giả và nghĩa vụ biên tập phát sóng theo pháp luật báo chí.