Tổng quan nghiên cứu

Quá trình chuyển đổi các tổng công ty nhà nước sang mô hình tập đoàn kinh tế là bước đi chiến lược trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tính đến tháng 9/2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt thí điểm chuyển đổi cho 52 doanh nghiệp nhà nước, trong đó Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là một trong sáu tổng công ty quy mô lớn nhất được lựa chọn theo Quyết định 58/2005/QĐ-TTg. Sau 15 năm hoạt động kể từ khi thành lập theo Quyết định 115/HĐBT năm 1990 với vốn tài sản cố định ban đầu chỉ 1.015 tỷ đồng, đến ngày 31/12/2004, tổng giá trị tài sản của VNPT đã tăng trưởng vượt bậc lên mức 52.401 tỷ đồng, đạt doanh thu thuần trên 30.000 tỷ đồng và duy trì tỷ suất lợi nhuận giai đoạn 1997-1999 từ 20,79% đến 31,37%.

Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức gồm 96 đơn vị thành viên theo mô hình Tổng công ty 91 bộc lộ nhiều điểm nghẽn pháp lý. Quan hệ liên kết giữa các đơn vị chủ yếu mang tính ghép nối hành chính, thiếu sự gắn kết chặt chẽ về mặt tài chính và quyền sở hữu vốn. Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá thực tiễn khung pháp lý chuyển đổi VNPT sang mô hình công ty mẹ - công ty con có ý nghĩa cấp thiết nhằm bảo toàn và phát triển 52.401 tỷ đồng nguồn vốn nhà nước, thiết lập cơ chế quản trị doanh nghiệp hiện đại, xóa bỏ cơ chế xin - cho và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh thực thi Luật Doanh nghiệp 2005.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản trị tập đoàn kinh tế thế giới, phân loại theo cấu trúc Concern (tập đoàn liên kết bằng quan hệ công ty mẹ - công ty con) và Conglomerate (tập đoàn kinh doanh đa ngành liên kết tài chính), đối chiếu với các mô hình tập đoàn đặc thù như Chaebol của Hàn Quốc và Keiretsu của Nhật Bản. Ba hình thức liên kết cơ bản được phân tích gồm: liên kết cứng thông qua góp vốn cổ phần, liên kết mềm qua hợp đồng kinh tế và liên kết tài chính thông qua công ty nắm giữ vốn (Holding Company).

Hệ thống khái niệm pháp lý then chốt bao gồm:

  • Công ty mẹ (Holding Company): Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ vốn điều lệ toàn phần hoặc giữ cổ phần chi phối, đại diện chủ sở hữu vốn và định hướng chiến lược.
  • Công ty con (Subsidiary): Pháp nhân độc lập chịu sự chi phối về tài chính, nhân sự hoặc công nghệ của công ty mẹ với tỷ lệ nắm giữ vốn thường từ 50% trở lên.
  • Công ty liên kết: Doanh nghiệp có phần vốn góp dưới mức chi phối của công ty mẹ (dưới 50% vốn điều lệ).
  • Quyền chi phối: Thẩm quyền quyết định nhân sự chủ chốt, chiến lược kinh doanh và phủ quyết các nghị quyết tài chính quan trọng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo tổ chức cán bộ của VNPT giai đoạn 1990-2005, kết hợp khung khổ pháp lý gồm Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003, Nghị định 153/2004/NĐ-CP, Nghị định 199/2004/NĐ-CP và Quyết định 06/2006/QĐ-TTg.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Đề tài tiến hành khảo sát điển cứu toàn diện toàn bộ tập mẫu 96 đơn vị thành viên trực thuộc VNPT (bao gồm 76 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 4 đơn vị hạch toán độc lập, 37 công ty cổ phần, 8 công ty liên doanh và 10 đơn vị sự nghiệp) kết hợp đối chiếu so sánh với 52 mô hình tổng công ty thí điểm trên cả nước tính đến tháng 9/2005.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp so sánh luật học và phương pháp phân tích tổng hợp kinh tế - luật học là bắt buộc nhằm làm rõ bản chất mâu thuẫn giữa quy chế quản lý hành chính cũ với yêu cầu tự chủ tài chính theo cơ chế thị trường, từ đó luận giải tính khả thi khi tái cấu trúc bộ máy quản trị VNPT.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của VNPT trước chuyển đổi mất cân đối nghiêm trọng khi khối đơn vị hạch toán phụ thuộc chiếm tới 76 trên tổng số 96 đơn vị thành viên (chiếm khoảng 79,16% số lượng) và tạo ra gần 80% tổng doanh thu toàn ngành. Cơ chế điều hành kế hoạch hóa tập trung đã triệt tiêu tính chủ động sáng tạo của 64 bưu điện tỉnh, thành phố và các đơn vị thành viên.

Thứ hai, mô hình quản trị cũ bộc lộ bất cập sâu sắc về trách nhiệm pháp lý. Trước năm 2005, Hội đồng quản trị VNPT gồm 7 thành viên nhưng hoạt động thụ động, không có vị trí chuyên trách ngoài Chủ tịch. Tình trạng Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc cùng ký nhận bàn giao vốn nhà nước dẫn đến sự chồng chéo, không xác định được chủ thể chịu trách nhiệm cao nhất đối với khối tài sản 52.401 tỷ đồng.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn có dấu hiệu sụt giảm theo quy mô. Dù tổng tài sản tăng hơn 50 lần từ 1.015 tỷ đồng (năm 1990) lên 52.401 tỷ đồng (năm 2004), tỷ suất lợi nhuận trên vốn đã giảm mạnh từ mức đỉnh 31,37% năm 1998 xuống còn 20,79% năm 1999 do bộ máy cồng kềnh và thiếu cơ chế điều hòa dòng tiền nhàn rỗi nội bộ.

Thứ tư, tính đa dạng về hình thức sở hữu đã hình thành nhưng thiếu khung pháp lý đồng bộ, thể hiện qua sự tồn tại của 37 công ty cổ phần (trong đó 26 đơn vị chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước) và 8 doanh nghiệp liên doanh hoạt động rời rạc, chưa phát huy được giá trị thương hiệu chung của tập đoàn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tán tại VNPT bắt nguồn từ cơ chế thành lập tổng công ty theo Quyết định 91/TTg năm 1994, vốn dĩ chỉ là một phép cộng cơ học các doanh nghiệp độc lập thành lập theo Nghị định 388/HĐBT nhằm thu gọn đầu mối hành chính.

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu doanh thu và phân bổ thành viên có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ tròn phân bổ doanh thu (khối 76 đơn vị phụ thuộc chiếm 80%, các khối còn lại chiếm 20%) và bảng ma trận đối chiếu quyền hạn quản trị giữa Điều lệ cũ theo Nghị định 51/CP (Hội đồng quản trị 7 thành viên kiêm nhiệm) với Điều lệ mới theo Quyết định 06/2006/QĐ-TTg (Hội đồng quản trị 9 thành viên, trong đó 3 chức danh chuyên trách gồm Chủ tịch, Tổng giám đốc và Trưởng Ban kiểm soát).

So với mô hình tập đoàn Concern quốc tế, VNPT chuyển đổi sang công ty mẹ nắm giữ vốn là hoàn toàn phù hợp quy luật tích tụ sản xuất. Việc tách bạch pháp nhân sở hữu vốn (công ty mẹ) và pháp nhân kinh doanh trực tiếp (công ty con) giúp chuyển đổi hoàn toàn quan hệ mệnh lệnh hành chính sang quan hệ kinh tế thông qua hợp đồng thương mại và tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc bộ máy cơ quan đầu não công ty mẹ: Hội đồng quản trị Tập đoàn VNPT cần duy trì cơ cấu 9 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, trong đó bắt buộc chuyên trách hóa 3 vị trí chủ chốt là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc và Trưởng Ban kiểm soát gồm 7 thành viên độc lập; ban hành quy chế phân định rõ quyền đại diện chủ sở hữu vốn của Hội đồng quản trị và quyền điều hành tác nghiệp của Tổng giám đốc trước quý IV/2006.

Thứ hai, thiết lập Quy chế quản lý tài chính và luân chuyển vốn nội bộ: Giao Hội đồng quản trị VNPT phối hợp với Bộ Tài chính hoàn thiện cơ chế đầu tư tài chính, điều hòa nguồn vốn 52.401 tỷ đồng, chuyển phương thức giao vốn thụ động sang cơ chế công ty mẹ trực tiếp đầu tư và thu lợi nhuận từ phần vốn góp tại 37 công ty cổ phần và các công ty con.

Thứ ba, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa và cơ cấu lại các đơn vị thành viên: Thực hiện chuyển đổi 100% các công ty nhà nước phụ thuộc không thuộc lĩnh vực hạ tầng mạng trục an ninh quốc gia sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần trong lộ trình chuyển tiếp 4 năm (2006-2010) theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.

Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý về mô hình công ty mẹ - con đa cấp: Kiến nghị Chính phủ sửa đổi Nghị định 153/2004/NĐ-CP, xây dựng quy chế pháp lý rõ ràng cho mô hình công ty mẹ nhiều cấp áp dụng đối với các Tổng công ty Viễn thông I, II, III trực thuộc VNPT, bảo đảm tính tự chủ sản xuất kinh doanh nhưng không làm suy giảm quyền chi phối vốn của tập đoàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban soạn thảo chính sách: Các chuyên viên thuộc Bộ Bưu chính Viễn thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp tham khảo để hoàn thiện thể chế quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước và hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2005 cho 52 doanh nghiệp thí điểm.
  • Lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước: Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc các đơn vị thuộc diện chuyển đổi mô hình Tổng công ty 91 áp dụng bài học kinh nghiệm về phân cấp quản lý tài chính, nhân sự và điều lệ tổ chức.
  • Luật sư và chuyên gia tư vấn doanh nghiệp: Các đơn vị tư vấn luật kinh tế sử dụng khung phân tích để xây dựng điều lệ công ty mẹ, hợp đồng liên kết kinh tế và cơ chế giải quyết xung đột quyền lực giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc.
  • Giảng viên và học viên sau đại học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Luật Kinh tế, Quản trị kinh doanh khai thác tài liệu làm điển cứu thực tế về tái cấu trúc doanh nghiệp và quản trị vốn nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao mô hình Tổng công ty 91 trước đây không còn phù hợp với thực tiễn phát triển của VNPT?
Mô hình Tổng công ty 91 được lập ra dựa trên việc gom cơ học 96 đơn vị thành viên theo mệnh lệnh hành chính. Khối hạch toán phụ thuộc chiếm gần 80% doanh thu nhưng thiếu quyền tự chủ, triệt tiêu động lực cạnh tranh và tạo tâm lý ỷ lại vào ngân sách.

Cơ cấu Hội đồng quản trị của Tập đoàn VNPT sau chuyển đổi có điểm gì đổi mới căn bản?
Hội đồng quản trị tăng từ 7 lên tối đa 9 thành viên, trong đó quy định rõ 3 vị trí chuyên trách (Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Trưởng Ban kiểm soát). Chủ tịch Hội đồng quản trị là người duy nhất đại diện ký nhận 52.401 tỷ đồng vốn nhà nước, chấm dứt tình trạng đồng ký nhận gây chồng chéo trách nhiệm.

Mối liên kết giữa công ty mẹ VNPT và các công ty con được vận hành trên cơ sở nào?
Liên kết được xác lập bằng quan hệ sở hữu vốn thay vì mệnh lệnh hành chính. Công ty mẹ chi phối công ty con thông qua tỷ lệ vốn góp (từ 50% trở lên hoặc nắm quyền phủ quyết), chỉ đạo chiến lược thông qua người đại diện vốn và thực hiện các giao dịch nội bộ thông qua hợp đồng kinh tế bình đẳng.

Làm thế nào để tách bạch hoạt động kinh doanh viễn thông với nhiệm vụ công ích?
Công ty mẹ VNPT trực tiếp quản lý mạng viễn thông đường trục an ninh quốc gia với 100% vốn nhà nước, trong khi các mảng dịch vụ công ích và bưu chính được hạch toán độc lập qua Tổng công ty Bưu chính Việt Nam, minh bạch hóa trợ cấp nhà nước và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh.

Thời hạn chuyển tiếp các công ty nhà nước thành viên VNPT theo Luật Doanh nghiệp 2005 được quy định ra sao?
Theo quy định chuyển tiếp của Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực từ ngày 1/7/2006, các doanh nghiệp nhà nước thành viên của VNPT có thời hạn tối đa 4 năm (đến năm 2010) để hoàn tất chuyển đổi sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

Kết luận

  • Chuyển đổi VNPT sang mô hình công ty mẹ - công ty con là xu thế tất yếu nhằm chuyển từ cơ chế quản lý hành chính sang cơ chế liên kết tài chính bền vững.
  • Mô hình quản trị mới với Hội đồng quản trị 9 thành viên và Ban kiểm soát 7 thành viên xác lập rõ địa vị pháp lý của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước.
  • Tái cấu trúc 96 đơn vị thành viên giúp tối ưu hóa hiệu quả khai thác khối tài sản 52.401 tỷ đồng và tạo quyền tự chủ kinh doanh cho các công ty con.
  • Thiết lập nền tảng pháp lý vững chắc cho việc quản lý mạng đường trục quốc gia kết hợp định hướng phát triển mô hình công ty mẹ đa cấp.
  • Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp lập pháp và quản trị thực tiễn cho lộ trình 4 năm chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010.

Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên sâu, cung cấp luận cứ khoa học chuẩn mực cho công tác tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu để vận dụng vào thực tiễn quản trị và hoàn thiện khung pháp lý kinh tế hiện đại.