CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Cơ sở đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân cấp xã 1. Cơ sở chính trị Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ 4. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 28/5/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về chuyển đổi số, đô thị thông minh gắn với cải cách hành chính.
Nghị quyết số 06-NQ/HU ngày 15/07/2021 của Ban Thường vụ Huyện ủy Xuyên Mộc về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, giai đoạn 2021-2025; 1. Cơ sở pháp lý - Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng năm 2030; - Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; - Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ 10 Phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; - Quyết định số 505/QĐ-TTg ngày 22/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Chuyển đổi số quốc gia; - Quyết định số 964/QĐ-TTg ngày 10/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược An toàn, An ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030; - Quyết định số 2323/QĐ-BTTTT ngày 31/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về ban hành Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam, phiên bản 2.0; - Quyết định số 2207/QĐ-UBND ngày 06/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Phê duyệt Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chuyển đổi số, đô thị thông minh gắn với cải cách hành chính; - Quyết định số 7926/QĐ-UBND ngày 23/12/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Xuyên Mộc Phê duyệt Kế hoạch Triển khai thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị Quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chuyển đổi số, đô thị thông minh gắn với cải cách hành chính huyện Xuyên Mộc. Chuyển đổi số và đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số trong cơ quan quản lý nhà nước 1. Một số khái niệm 1.
Chuyển đổi số Theo “Cẩm nang chuyển đổi số” (Tái bản 2021) của Bộ Thông tin và Truyền thông thì “Chuyển đổi số là bước phát triển tiếp theo của tin học hóa, có được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số.” [10] 11 Trong đó, tin học hóa, hay còn gọi là hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, là việc số hóa các quy trình nghiệp vụ đã có. Tin học hóa không làm thay đổi quy trình hay mô hình hoạt động đã có. Khi tin học hóa ở mức cao, dẫn đến sự thay đổi về quy trình hoặc thay đổi mô hình hoạt động, được gọi là chuyển đổi số. Công nghệ số, theo nghĩa hẹp, là bước phát triển cao hơn, bước phát triển tiếp theo của công nghệ thông tin, cho phép tính toán nhanh hơn, xử lý dữ liệu nhiều hơn, truyền tải dung lượng, dữ liệu lớn hơn, với chi phí rẻ hơn.
Còn theo nghĩa rộng, công nghệ số là một trong các nhóm công nghệ chính của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ IV, gồm có công nghệ điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi khối, công nghệ thực tế ảo… Như vậy, khái niệm công nghệ số được tiếp cận theo nghĩa rộng phổ biến hơn. Trên thế giới, chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2015, phổ biến từ năm 2017. Ở Việt Nam, chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2018. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia vào ngày 03/6/2020.
Trong đề án này, tác giả đồng tình và sử dụng định nghĩa chuyển đổi số theo theo “Cẩm nang chuyển đổi số” (Tái bản 2021) của Bộ Thông tin và Truyền thông, đó là: Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Chuyển đổi số trong cơ quan quản lý nhà nước là hoạt động phát triển chính phủ số của các cơ quan trung ương và tương tự với đó là hoạt động phát triển chính quyền số, đô thị thông minh của các cơ quan QLNN các cấp ở địa phương. Hoạt động chuyển đổi số 12 Hoạt động chuyển đổi số được hiểu là tất cả những hoạt động của quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Theo đó, hoạt động chuyển đổi số gắn với hoạt động xây dựng và phát triển chính phủ số.
Nếu như, trong xây dựng và phát triển chính phủ điện tử là tập trung cho việc ứng dụng CNTT, cung cấp dịch vụ hành công trực tuyến. Thì trong xây dựng và phát triển chính phủ số sẽ là đặt trọng tâm cho việc đưa mọi hoạt động của chính phủ lên môi trường số. Hay cụ thể hơn, Chính phủ điện tử là chính phủ tin học hóa các quy trình đã có, đã định sẵn, chỉ cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã có. Chính phủ số là chính phủ chuyển đổi số, là đổi mới mô hình các hoạt động, thay đổi các quy trình làm việc, thay đổi cách thức cung cấp các dịch vụ, cung cấp dịch vụ công mới một cách kịp thời, nhanh chóng.
Đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số Trong tiếng Việt, “đẩy mạnh” được hiểu là “Thúc đẩy cho phát triển nhanh, mạnh lên”. [19] Và do đó, đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số chính là quá trình thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số được thực hiện nhanh và mạnh hơn trong thực tế. Nội dung hoạt động chuyển đổi số trong cơ quan QLNN Căn cứ Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, quá trình chuyển đổi số trong cơ quan, tổ chức có rất nhiều các hoạt động cụ thể. Nhìn chung hoạt động chuyển đổi số trong cơ quan Nhà nước sẽ bao gồm 03 nhóm nội dung chính như sau: - Chuyển đổi số ở yếu tố con người: Hoạt động chuyển đổi số trong cơ quan QLNN quan trọng nhất là con người, cụ thể hơn là CBCC và người dân.
Những người trực tiếp tham gia vào hoạt động tạo dựng, phát triển và duy trì hoạt động chuyển đổi số. CBCC có nhiệm vụ thực hiện và áp dụng các quy trình 13 đã được thông qua trong khi thực hiện công vụ. Trong cơ quan QLNN, việc áp dụng các phương thức chuyển đổi số mang đến hiệu quả khi đánh giá chất lượng công việc còn có thể bắt đầu từ người đứng đầu cơ quan, là nhận thức và sự vào cuộc thực sự của người đứng đầu, vấn đề chỉ đạo cấp dưới thực hiện triệt để và liên tục các công nghệ số vào quá trình công việc. Đối với người dân, đòi hỏi sự thay đổi kỹ năng và thói quen trong sinh hoạt, lối sống và trong việc giải quyết TTHC tại cơ quan QLNN.
Thách thức lớn nhất cho hoạt động chuyển đổi số trước mắt là kỹ năng số của CBCC và người dân. - Chuyển đổi số ở yếu tố cơ sở hạ tầng, trang thiết bị: Hạ tầng và trang thiết bị phục vụ là yếu tố nền tảng cho hoạt động chuyển đổi số trong cơ quan QLNN. Nếu như cách làm truyền thống làm việc cùng với giấy tờ, các quy trình, trang thiết bị thủ công, thì khi áp dụng chuyển đổi số, CBCC đã thuận tiện hơn với nền hành chính “không giấy tờ”, thực hiện các hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản, giải quyết thủ tục hành chính,… hoàn toàn trên máy tính và dữ liệu được lưu trữ trên hệ thống vĩnh viễn. Có thể nhắc đến một số sản phẩm phục vụ cho CBCC hiện nay như: chữ ký số, hệ thống các trang web: quản lý và điều hành văn bản dùng chung, cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống số hoá TTHC,… - Chuyển đổi số ở yếu tố phương thức, cách vận hành: Phương thức, cách thức chuyển đổi số - quy trình, trình tự thực hiện các bước áp dụng công nghệ số vào công việc tại cơ quan QLNN.
Đây là yếu tố đã và đang thay đổi liên tục theo từng thời điểm cụ thể mà không cố định. Đối với từng cơ sở hạ tầng, hệ thống theo từng lĩnh vực QLNN đều có phương thức, cách thức, quy trình thực hiện khác nhau. Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục không thể có cùng nội dung, đặc điểm của cơ sở hạ tầng cũng như cách thức thực hiện giống với lĩnh vực y tế. Lợi ích của hoạt động chuyển đổi số trong cơ quan QLNN 1.
Lợi ích của hoạt động chuyển đổi số đối với CBCC, cơ quan QLNN Thứ nhất, tiết kiệm chi phí cho cơ quan QLNN. Lợi ích của chuyển đổi số các hoạt động, cách thức, quy trình giờ đây sẽ được tự động hóa. Từ đó rút ngắn được thời gian thực hiện, giảm thiểu các đầu việc không cần thiết, tối ưu chi phí phục vụ công việc và lưu trữ hồ sơ giấy. Thứ hai, tối đa năng suất làm việc CBCC.
Nếu như theo cách làm truyền thống, CBCC phải thực hiện theo thứ tự một cách rập khuôn thì khi thực hiện các quy trình chuyển đổi số, với các mô hình được tinh gọn, thông minh, nhanh chóng, CBCC sẽ có hứng thú làm việc hơn, gia tăng hiệu quả, năng suất và tốc độ xử lý công việc. Thứ ba, giúp CBCC và cơ quan QLNN thích ứng với những sự thay đổi, biến đổi trong các quy trình chỉ đạo, điều hành và xử lý công việc. Điển hình trong giai đoạn 2021 - 2022, mặc dù tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, các hoạt động hội họp trong cơ quan QLNN vẫn được diễn ra bằng hình thức trực tuyến thông qua các ứng dụng chuyển đổi số. Thứ tư, việc quản lý, đồng bộ, sử dụng, trích xuất dữ liệu nhanh chóng và tiện lợi khi toàn bộ dữ liệu được lưu trữ trên hệ thống, phần mềm, giúp CBCC thực hiện kịp thời, các thông tin được trở nên minh bạch hơn.