Đặt vấn đề Đô thị hóa là động lực phát triển quan trọng của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Từ sau khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra một cách chóng mặt trên khắp cả nước. Trong xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những năm gần đây chúng ta chứng kiến quá trình đô thị hóa với tốc độ cao chưa từng có ở các thành phố lớn của cả nước: nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu chế xuất… với quy mô khác nhau được hình thành và đi vào hoạt động. Cụ thể, theo báo cáo của Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, 10 năm qua đã có gần 350 ngàn ha đất bị chuyển cho mục đích sử dụng khác, trong đó có 270 ngàn ha đất trồng lúa nước và nhiều diện tích thuộc đồng bằng đã chuyển sang để phát triển đô thị, các khu công nghiệp và các cơ sở phi nông nghiệp.
Tính đến đầu năm 2012, mạng lưới đô thị Việt Nam có 731 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 3 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 42 đô thị loại III, 35 đô thị loại IV và 635 đô thị loại V, trong đó các đô thị lớn tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, dọc theo bờ biển từ bắc vào nam, và Đồng bằng sông Cửu Long. Các vùng núi và trung du có mật độ đô thị thấp hơn và qui mô dân số đô thị nhỏ hơn. Về quy hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, tính đến tháng 6 năm 2013 cả nước có 289 khu công nghiệp, với tổng diện tích tự nhiên 81.018 ha, 15 khu kinh tế đã được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước là 697.800 ha, 28 khu kinh tế cửa khẩu được thành lập tại 21/25 tỉnh biên giới đất liền(1). Làn sóng đô thị hóa diễn ra nhanh chóng như thế đã và đang tác động nhiều đến sản xuất nông nghiệp, nhất là ở các vùng ven đô thị lớn.
Đặc biệt, ở vùng ven đô của hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình đô thị hóa đã diễn ra hết sức sôi động với tốc độ nhanh hơn các thành 1 phố khác trong cả nước, dẫn đến quá trình thu hồi đất khá lớn, chủ yếu là chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất sử dụng cho mục đích phát triển công nghiệp, dịch vụ, khu đô thị mới. Thực tiễn cho thấy, quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta hiện nay gắn liền với đô thị hóa và đây là quá trình tất yếu khách quan và tiếp tục phát triển trong tương lai. Quá trình thu hồi đất, nhất là đất nông nghiệp để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã nâng giá trị sử dụng đất đai, làm cho diện mạo đô thị Việt Nam có nhiều thay đổi, tạo chất và lượng mới. Tuy nhiên, quá trình này cũng làm nảy sinh những tác động tiêu cực, đặc biệt đối với khu vực chịu nhiều tác động nhất của sự chuyển dịch này là khu vực nông thôn ven đô được đô thị hóa, đưa tới một số hệ lụy như mất việc làm và nghèo đói ở nông thôn, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội ngày càng tăng.
đặt ra nhiều vấn đề mà Đảng và Nhà nước cần có các chính sách và giải pháp để giải quyết. Cùng với sự phát triển chung, quận Long Biên nói chung và phường Phúc Đồng nói riêng không nằm ngoài xu thế đó. Là một quận vùng ven của Thành phố Hà Nội, với lợi thế thuận lợi về giao thông đường bộ, là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, có vị trí địa lý: Phía đông và phía nam giáp huyện Gia Lâm bởi ranh giới là sông Đuống và quốc lộ 1A mới, quận Long Biên là khu vực tiềm năng cho chiến lược phát triển của Thành phố Hà Nội. Có thể nói địa bàn này đang trên đà đô thị hóa nhanh chóng, với hàng loạt các cụm dân cư mới được xây dựng như: Khu Đô Thị Việt Hưng, Vinhomes,.
và các cụm, khu công nghiệp Hanel, khu công nghiệp Sài Đồng…. đã được hình thành. Về phường Phúc Đồng, kể từ khi chuyển đổi hành chính từ cấp huyện lên cấp quận vào năm 2004, phường Phúc Đồng đã có những chuyển biến rõ rệt như: hình thành khu dân cư Vinhomes, các khu chung cư cao cấp, nhà máy xí nghiệp thuộc khu Công nghiệp Sài Đồng B, đặc biệt kể đến dự án sân Golf Long Biên, với tổng diện tích 2 thu hồi đất lớn và đền bù với giá cao. Để có được sự chuyển đổi đó là quá trình thu hồi đền bù đất nhanh chóng nhờ sự hợp tá của chính quyền, người dân cùng các tập đoàn, doanh nghiệp.
Quá trình đó dẫn đến việc thu hồi diện tích đất khá lớn tại các xã/thị trấn trên địa bàn quận. Từ đó nảy sinh một số vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu giải quyết đối với sự biến đổi sinh kế của nông hộ tại nơi đây. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra những tác động đặc thù của quá trình đô thị hóa với các khía cạnh khác nhau của các hoạt động sinh kế của nông hộ tai phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Hà Nội, các tổn thương, khả năng thích ứng trong hoàn cảnh, điều kiện mới như thế nào. Sự tổn thương, thích ứng dựa trên những nguồn lực khác nhau của các cá nhân, hộ nông nghiệp và mối quan hệ xã hội khác nhau có ý nghĩa về mặt nghiên cứu xã hội học cũng như hàm ý chính sách.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài Quá trình đô thị hóa tạo ra nhiều tác động khác nhau đối với các lĩnh vực đời sống xã hội và do vậy là một vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu khoa học xã hội. Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa quá trình đô thị hóa và hoạt động sinh kế của người dân cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Cho đến nay trên thế giới và ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan vấn đề này với nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Có thể nêu một số công trình tiêu biểu như sau: 2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài Trong nghiên cứu “Những biên giới đô thị mới: Quá trình đô thị hóa vùng ven đô và (tái) lãnh thổ hóa ở Đông Nam Á” của Michael Leaf, tác giả tập trung nghiên cứu các vùng ven đô thị Đông Nam Á và Thành phố Hồ Chí Minh. Theo tác giả, đây là vùng đệm giữa đô thị cũ và vùng nông thôn chung quanh và là nơi đang diễn ra sự thể nghiệm các khu đô thị mới với các khu công nghiệp, nhà ở, vui chơi giải trí. Hiện tượng đô thị hóa vùng ven đô thị diễn ra ở nước ta rất phức tạp khi xuất hiện tình trạng chiếm dụng đất canh tác nông nghiệp, đầu cơ đất đai và nạn tham nhũng.
Tác giả cũng đưa ra khuyến nghị chính quyền địa phương cần xác định lại phong cách quản lý mới và tái cấu trúc lại lãnh thổ thì mới hài hòa cho công cuộc đô thị hóa. Trong nghiên cứu “Đánh giá lại cách thức trong quá trình đại đô thị hóa của Đông Nam Á” T.Mc Gee (2009) tìm hiểu về những thử thách lớn mà sự tăng trưởng của đô thị hóa tại Đông Nam Á, đặt ra cho vấn đề chính sách, đặc biệt là tập trung vào sự hình thành các vùng đại đô thị. Ngoài ra, với vai trò là cửa ngõ và điểm nối kết trong nền kinh tế ngày càng hội nhập của khu vực Đông Nam Á và của toàn cầu, các vùng đại đô thị giữ vị trí then chốt trong hoạt động kinh tế quốc gia. Vì vậy việc đề ra các hệ thống quản lý, điều hành và quy hoạch 4 đô thị hữu hiệu để có được những vùng đô thị bền vững, duy trì hoạt động kinh tế, an sinh xã hội và điều kiện sống tốt đang trở thành những vấn đề trung tâm của chính sách.
Tác giả tập trung phân tích các lực tác động ở cấp tòan cầu và cấp địa phương dẫn đến việc hình thành các vùng đại đô thị ở Đông Nam Á, sau đó phác họa các thành phần dân số của mô hình đô thị hóa này. Theo đó tác giả tìm hiểu các hệ quả chính sách về kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình đô thị hóa đó, đặc biệt là các tác động lên vùng ven của các vùng đại đô thị. Đồng thời tác giả đề xuất các chính sách cần thiết để quản lý các vấn đề thách thức đô thị. Trong khuôn khổ dự án nghiên cứu “Đô thị hóa và phát triển – đi sâu vào các mối quan hệ”(Urbanization anh Development: Delving Deeper into the Nexus), nghiên cứu “Quá trình đô thị hóa và hình thái đô thị trong bối cảnh cận kề của nền kinh tế thị trường: SaoPaulo, Jakarta, Belo Horizonte và Hà Nội” của nhóm tác giả Eliana Rosa de Barbosa, Patricia Capanema Alvares Farnardes và Nguyễn Thanh Tú đã được tiến hành trong giai đoạn từ tháng 3/2012 đến tháng 3/2014.
Nghiên cứu đi sâu tìm hiểu bốn thành phố đại diện cho Châu Mỹ Latin và Châu Á thông qua việc nghiên cứu quy mô lãnh thổ và dân số, các mạng lưới huyết mạch và hình thái của chúng trong so sánh cặp và so sánh chéo. Nó hướng tới sự hiểu biết tốt hơn về mối quan hệ tương hỗ giữa lịch sử phát triển và hoạt động kinh tế - xã hội, về sự vận hành thành phố dưới tác động của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay. Nắm bắt kết quả nghiên cứu này hy vọng sẽ giúp các nhà quy hoạch, các nhà nghiên cứu đô thị các nước đang phát triển có cơ hội được học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, được kiểm nghiệm công tác quy hoạch của mình trên thực tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương đồng ở cả bốn thành phố là những tác động mang tính quyết định của các công tác quy hoạch chính thống lên không gian đô thị.
Ý chí, mong muốn phát triển thành phố theo hướng hiện đại của chính quyền các thành phố này đều đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt đô thị. Thành tựu rõ nét nhất của các chương trình 5 quy hoạch chung, quy hoạch vùng là sự hiện diện của đường và phương tiện giao thông cao tốc, với mạng lưới hạ tầng kỹ thuật khác ở khắp nơi tạo nên bộ khung định ra hình dáng của một đô thị hiện đại.