Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Việt Nam đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, thúc đẩy sự chuyển dịch mạnh mẽ về mặt cấu trúc kinh tế và không gian lãnh thổ. Theo báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên cả nước phục vụ xây dựng các khu đô thị và cụm công nghiệp đã lên tới 366.000 ha, chiếm gần 3,9% tổng quỹ đất nông nghiệp quốc gia. Trung bình mỗi năm có khoảng 73.300 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tác động trực tiếp đến đời sống sinh kế của hơn 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu nhân khẩu nông thôn. Đáng chú ý, cứ mỗi hecta đất canh tác bị thu hồi thì có trung bình 13 lao động nông nghiệp phải đối mặt với việc mất kế sinh nhai truyền thống.

Tại Hà Nội, trung bình mỗi năm thành phố thu hồi khoảng 1.000 ha đất, trong đó đất nông nghiệp chiếm trên 80%. Địa bàn phường Kiến Hưng, quận Hà Đông là một điển hình sâu sắc cho không gian ven đô đang trong giai đoạn giao thoa chuyển tiếp từ làng lên phố sau khi sáp nhập địa giới hành chính vào năm 2008. Trên tổng diện tích 288,8 ha đất nông nghiệp của toàn phường, chính quyền đã tiến hành thu hồi tới 213 ha, khiến hàng ngàn hộ dân thuần nông rơi vào tình trạng thiếu tư liệu sản xuất chủ yếu.

Trước bối cảnh đó, đề tài tập trung làm rõ thực trạng chuyển đổi việc làm, nhận diện các rào cản thích ứng và đo lường những biến đổi về thu nhập, mức sống của người dân địa phương. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại phường Kiến Hưng trong mốc thời gian từ tháng 01/2013 đến tháng 09/2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống luận cứ xã hội học thực chứng giúp các cơ quan quản lý đô thị ban hành các chính sách an sinh, đào tạo nghề và giải quyết việc làm thỏa đáng cho người nông dân mất đất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng kết hợp hai khung lý thuyết nền tảng trong xã hội học để phân tích hành vi và sự thích ứng của người dân:

Thứ nhất, Lý thuyết biến đổi xã hội xem xét quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa như một sự chuyển dịch tất yếu mang tính cấu trúc. Ở cấp độ vĩ mô, việc thu hồi đất làm thay đổi diện mạo kinh tế và cơ cấu ngành nghề từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ. Ở cấp độ vi mô, biến đổi xã hội tác động trực tiếp đến từng hộ gia đình, buộc người nông dân phải tái cấu trúc sinh kế, thay đổi nếp sống và đối mặt với cả thời cơ phát triển lẫn các thách thức rủi ro mới.

Thứ hai, Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý của George Homans giải thích quá trình ra quyết định tìm kiếm việc làm mới của người dân. Dựa trên các định đề cơ bản như định đề phần thưởng, định đề giá trị và định đề duy lý, người nông dân khi mất tư liệu sản xuất sẽ tính toán có chủ đích nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế trước mắt với chi phí và rủi ro thấp nhất. Tùy thuộc vào các nguồn lực cá nhân sẵn có như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và mạng lưới quan hệ xã hội, mỗi cá nhân sẽ lựa chọn loại hình việc làm phù hợp nhất với điều kiện thực tế của mình.

Các khái niệm công cụ then chốt được thao tác hóa gồm: Việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động; Nghề nghiệp và chuyển đổi việc làm; Vùng ven đô với đặc thù tỷ lệ đất nông nghiệp còn lại từ 10% đến 30%; và Thu hồi đất sản xuất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm 2003.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính tin cậy và chiều sâu học thuật:

Về phương pháp định lượng, tác giả thực hiện trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi bán cấu trúc với cỡ mẫu gồm 200 người dân thuần nông bị thu hồi đất tại phường Kiến Hưng. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các hộ gia đình có tỷ lệ thu hồi đất và hoàn cảnh kinh tế khác nhau. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được nhập liệu, làm sạch và xử lý thống kê mô tả, phân tích bảng chéo thông qua phần mềm SPSS. Lý do lựa chọn SPSS là nhằm kiểm định chính xác mối tương quan giữa các biến nhân khẩu học với xu hướng dịch chuyển việc làm.

Về phương pháp định tính, nghiên cứu tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc, bao gồm 8 người dân đại diện cho các nhóm tuổi, giới tính và 2 cán bộ quản lý thuộc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phường Kiến Hưng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ các báo cáo phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương và các nghiên cứu khoa học chuyên ngành. Toàn bộ tiến trình thu thập và phân tích dữ liệu được thực hiện đồng bộ trong khoảng thời gian từ tháng 01/2013 đến tháng 09/2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực chứng từ 200 bảng hỏi và các cuộc phỏng vấn sâu cho thấy 3 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, mức độ thu hồi đất diễn ra trên quy mô rất lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến cơ cấu lao động gia đình. Trong 200 hộ điều tra với 738 người trong độ tuổi lao động, có tới 458 người sống hoàn toàn bằng nghề nông (bình quân 2,29 lao động nông nghiệp trên một hộ). Số hộ bị thu hồi từ 71% đến 90% diện tích đất chiếm tỷ lệ cao nhất là 47%, tiếp theo là nhóm bị thu hồi từ 51% đến 70% chiếm 24%, nhóm bị thu hồi từ 91% đến 100% chiếm 14%, trong khi tỷ lệ thu hồi dưới 25% chỉ vỏn vẹn 5%. Tổng cộng có tới 85% số hộ khảo sát bị mất trên một nửa diện tích đất canh tác.

Thứ hai, lực lượng lao động dịch chuyển chủ yếu sang khu vực phi chính thức, thiếu tính bền vững. Trước khi mất đất, 100% người trả lời làm nông nghiệp nhưng đã có 56% chủ động làm thêm việc phụ để tăng thu nhập. Sau khi đất bị thu hồi, người dân không thể tiếp cận các khu vực việc làm chính quy mà tập trung vào các nghề tự do: buôn bán nhỏ lẻ chiếm 48,2%, làm thuê công nhật như thợ hồ, cửu vạn chiếm 44,6%, thương mại - dịch vụ đơn giản như chạy xe ôm chiếm 10,7%, còn sản xuất tiểu thủ công nghiệp chỉ chiếm 3,6%.

Thứ ba, sự phân hóa việc làm chịu tác động mạnh mẽ bởi yếu tố nhân khẩu học. Về mặt giới tính, 64,3% phụ nữ chọn buôn bán nhỏ lẻ tại chợ và bán hàng rong quanh khu vực ven đô, trong khi 46,4% nam giới chọn làm thuê công nhật tại các công trình xây dựng và 17,9% làm dịch vụ vận tải, xe ôm. Về nhóm tuổi, độ tuổi trung niên từ 31 đến 45 tuổi thể hiện tính cơ động cao nhất với 51,8% tham gia làm thêm nghề phụ, trong khi nhóm lao động từ 46 đến 60 tuổi gặp nhiều khó khăn nhất do sức khỏe giảm sút và tâm lý gắn bó lâu đời với ruộng đồng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chuyển dịch việc làm sang khu vực phi chính thức xuất phát từ sự thiếu hụt nghiêm trọng về vốn con người. Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng 71% người lao động chỉ có trình độ học vấn tiểu học (32%) và trung học cơ sở (39%), có tới 6% mù chữ và hoàn toàn không có người nào đạt trình độ cao đẳng hay đại học (0%). Trình độ văn hóa thấp cùng với việc thiếu kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn khiến đại đa số người nông dân không đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp liền kề.

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế của Kathy Le Mons Walker tại Trung Quốc hay Moges Gobena tại Ethiopia, thực trạng tại Kiến Hưng cũng phản ánh đúng hội chứng ba không của nông dân mất đất: không đất sản xuất, không việc làm chính thức ổn định và không an sinh xã hội vững chắc. Kết quả này cũng củng cố công trình của Nguyễn Duy Thắng và Hoàng Bá Thịnh, chỉ ra rằng tiền đền bù đất đai chủ yếu được sử dụng vào xây dựng nhà cửa hoặc chi tiêu sinh hoạt ngắn hạn, rất ít hộ đầu tư cho đào tạo nghề dài hạn.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, các bảng phân tích chéo giữa giới tính, nhóm tuổi với loại hình công việc và biểu đồ phân bổ diện tích đất bị thu hồi đã minh họa rõ nét cơ chế thích ứng sinh kế mang tính tự phát, phản ánh tính duy lý của người dân khi lựa chọn các công việc đem lại thu nhập tức thì để duy trì cuộc sống hàng ngày.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm hỗ trợ chuyển đổi sinh kế bền vững cho người dân ven đô:

Một là, tái cấu trúc chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Ủy ban nhân dân quận Hà Đông và các trường dạy nghề trên địa bàn cần mở các lớp đào tạo ngắn hạn linh hoạt từ 3 đến 6 tháng về các ngành nghề phù hợp như kỹ thuật điện dân dụng, may công nghiệp, sửa chữa máy móc, lái xe và dịch vụ bán hàng. Mục tiêu phấn đấu nâng tỷ lệ lao động nông thôn bị thu hồi đất qua đào tạo nghề lên trên 65% trong giai đoạn 2015-2018.

Hai là, tăng cường chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ tạo việc làm. Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp với Hội Nông dân và Hội Phụ nữ phường Kiến Hưng triển khai các gói vay vốn lãi suất thấp với thời hạn vay từ 24 đến 36 tháng. Mục tiêu giúp ít nhất 80% hộ dân có nhu cầu chuyển đổi sang kinh doanh thương mại, dịch vụ hoặc mở rộng quy mô xưởng rèn truyền thống tiếp cận được nguồn vốn hợp pháp.

Ba là, quy định trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp tiếp nhận đất dự án. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cần ban hành cơ chế ràng buộc các chủ đầu tư xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp dành tỷ lệ ưu tiên tuyển dụng từ 20% đến 30% lao động phổ thông tại địa phương vào các vị trí công việc như bảo vệ, tạp vụ, chăm sóc cây xanh và vận hành kỹ thuật cơ bản.

Bốn là, thiết lập mạng lưới tư vấn sinh kế và an sinh xã hội cấp cơ sở. Ủy ban nhân dân phường Kiến Hưng cần thành lập tổ công tác chuyên trách tư vấn hướng nghiệp định kỳ hàng quý, đồng thời hỗ trợ 100% người dân thuộc diện mất đất tiếp cận các chương trình bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm giảm thiểu rủi ro sinh kế lâu dài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại các đô thị loại 1 và loại 2. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động xã hội của công tác giải phóng mặt bằng, giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn thiện các thông tư hướng dẫn về bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân diện thu hồi đất.

Nhóm thứ hai là cán bộ lãnh đạo chính quyền cơ sở tại các vùng ven đô đang đô thị hóa. Nghiên cứu giúp Ủy ban nhân dân cấp quận và phường thấu hiểu các đặc điểm tâm lý, nguyện vọng và rào cản nhân khẩu học của hơn 4.000 hộ dân địa phương, từ đó xây dựng các đề án hỗ trợ sinh kế sát hợp với điều kiện thực tế.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xã hội học, Nhân học, Kinh tế phát triển và Quản lý công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận xã hội học, kỹ thuật chọn mẫu điều tra 200 đơn vị, ứng dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý và quy trình phân tích dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và các đơn vị phát triển cộng đồng. Báo cáo cung cấp dữ liệu cơ sở để xây dựng các dự án can thiệp phát triển sinh kế, đặc biệt hướng tới nhóm phụ nữ chiếm 54% mẫu khảo sát và nhóm lao động trung niên trên 45 tuổi chịu nhiều tổn thương nhất sau khi mất đất sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp tại phường Kiến Hưng diễn ra ở mức độ nào? Theo thống kê, toàn phường đã thu hồi 213 ha trong tổng số 288,8 ha đất nông nghiệp. Khảo sát 200 hộ dân cho thấy có tới 85% số hộ bị thu hồi trên 50% diện tích đất canh tác, trong đó nhóm bị thu hồi từ 71% đến 90% diện tích chiếm tỷ trọng cao nhất với 47%.

  2. Người nông dân sau khi bị thu hồi đất chủ yếu chuyển sang làm các công việc gì? Người dân chuyển dịch ồ ạt sang khu vực kinh tế phi chính thức tự do. Có 48,2% người được hỏi chọn buôn bán nhỏ lẻ tại chợ và bán hàng rong; 44,6% làm thuê công nhật tự do như thợ phụ hồ, bốc vác; trong khi chỉ có 10,7% làm thương mại - dịch vụ chuyên nghiệp và 3,6% làm tiểu thủ công nghiệp.

  3. Đâu là rào cản lớn nhất đối với người dân khi tìm kiếm việc làm mới ổn định? Trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp thấp là trở ngại lớn nhất. Trong 200 mẫu khảo sát, có 71% người lao động chỉ có trình độ tiểu học (32%) và trung học cơ sở (39%), 6% mù chữ và 0% có trình độ cao đẳng hay đại học, khiến họ không thể đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng của các doanh nghiệp.

  4. Yếu tố giới tính chi phối sự lựa chọn việc làm sau khi mất đất như thế nào? Yếu tố giới tính tạo ra sự phân hóa ngành nghề rất rõ rệt. Phụ nữ tập trung nhiều nhất vào công việc buôn bán nhỏ lẻ với 64,3% (so với 32,1% ở nam giới). Ngược lại, nam giới chủ yếu lựa chọn làm thuê công nhật nặng nhọc chiếm 46,4% và làm nghề lái xe ôm chiếm 17,9%.

  5. Hiệu quả từ các chính sách đào tạo nghề của chính quyền địa phương đạt mức nào? Hiệu quả của công tác đào tạo nghề còn bộc lộ nhiều hạn chế. Người dân trong nhóm tuổi lao động chính từ 31 đến 45 tuổi (chiếm 49,5% mẫu khảo sát) có xu hướng ưu tiên chọn những công việc thời vụ tạo ra nguồn thu nhập tức thì để trang trải sinh hoạt thay vì tham gia các lớp học nghề kéo dài.

Kết luận

Nghiên cứu về chuyển đổi việc làm của người dân ven đô tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông đã rút ra 5 kết luận khoa học cốt lõi:

  • Quá trình đô thị hóa dẫn đến việc thu hồi 213 ha đất nông nghiệp, tác động sâu sắc đến phương thức sinh nhai của hơn 458 lao động thuần nông trong mẫu nghiên cứu.
  • Có tới 85% hộ dân mất trên một nửa tư liệu sản xuất, dẫn tới làn sóng chuyển dịch việc làm tự phát sang khu vực phi chính thức với 48,2% buôn bán nhỏ và 44,6% làm thuê công nhật bấp bênh.
  • Rào cản học vấn thấp (71% dưới cấp 3) và cơ cấu tuổi tác trung niên (49,5% từ 31 đến 45 tuổi) hạn chế nghiêm trọng năng lực tham gia vào thị trường lao động chất lượng cao.
  • Quyết định chọn việc làm tự do thể hiện sự vận dụng chuẩn xác lý thuyết lựa chọn hợp lý, khi người dân ưu tiên sinh kế ngắn hạn để bù đắp nhanh chóng nguồn thu bị mất.
  • Cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp về đào tạo nghề gắn với thị trường, hỗ trợ tín dụng ưu đãi, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 65% và bảo đảm mạng lưới an sinh xã hội cơ sở.

Đóng góp chính của luận văn là đã hệ thống hóa bức tranh xã hội học thực chứng về sự chuyển đổi sinh kế vùng ven đô Hà Nội trong giai đoạn 2013-2014. Để tiếp tục phát huy kết quả nghiên cứu, các nhà quản lý và nhà khoa học cần tiến hành các cuộc khảo sát đánh giá định kỳ trong giai đoạn tiếp theo nhằm hoàn thiện khung chính sách an sinh xã hội, bảo đảm sự phát triển đô thị bền vững và bao trùm.