Luận văn thạc sĩ ussh chuyển đổi việc làm của người dân ven đô sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp tại phường kiến hưng quận hà đông hà nội

Luận văn thạc sĩ phân tích chuyển đổi việc làm của người dân ven đô sau thu hồi đất nông nghiệp tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội.

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

131
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1. Nghề nghiệp và chuyển đổi nghề nghiệp

1.2. Thu hồi đất sản xuất nông nghiệp

1.3. Lý thuyết biến đổi xã hội

1.4. Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý

1.5. Chủ trƣơng, chính sách về vấn đề thu hồi đất nông nghiệp và chuyển đổi việc làm của ngƣời dân sau khi thu hồi đất

1.6. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung và UBND Thành phố Hà Nội nói riêng về vấn đề thu hồi đất nông nghiệp

1.7. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung và UBND Thành phố Hà Nội nói riêng về vấn đề chuyển đổi việc làm cho người dân sau khi thu hồi đất

1.8. Tổng quan địa bàn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN VEN ĐÔ HÀ NỘI SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

2.1. Tình trạng thu hồi đất nông nghiệp của ngƣời dân

2.2. Chuyển đổi việc làm của ngƣời dân ven đô Hà Nội sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp

2.3. Thực trạng việc làm trước khi bị thu hồi đất

2.4. Thực trạng việc làm sau khi bị thu hồi đất

2.5. Thời gian chuyển đổi việc làm sau khi bị thu hồi đất

2.6. Thay đổi về thu nhập và mức sống sau khi thu hồi đất

2.7. Đánh giá của ngƣời dân về mức độ hài lòng với công việc hiện tại và mong muốn của họ

2.8. Thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển đổi việc làm sau khi bị thu hồi đất

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI VIỆC LÀM SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT

3.1. Yếu tố giới

3.2. Yếu tố độ tuổi

3.3. Yếu tố trình độ học vấn

3.4. Yếu tố nguồn vốn xã hội

3.5. Sử dụng tiền đền bù, hỗ trợ đất bị thu hồi

3.6. Yếu tố hỗ trợ của chính quyền địa phương

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về chuyển đổi nghề nghiệp của người dân ven đô Hà Nội

Chuyển đổi nghề nghiệp của người dân ven đô Hà Nội sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp là một vấn đề cấp bách. Đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến việc thu hồi đất nông nghiệp, ảnh hưởng lớn đến đời sống và việc làm của người dân. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hàng trăm nghìn lao động đã mất việc làm do thu hồi đất. Việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề này là cần thiết để đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân.

1.1. Tình hình thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội

Hà Nội đã thu hồi hàng nghìn hecta đất nông nghiệp để phục vụ cho các dự án phát triển đô thị. Điều này đã tạo ra áp lực lớn lên người dân, đặc biệt là những người phụ thuộc vào nông nghiệp. Sự chuyển đổi này không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn đến an sinh xã hội.

1.2. Tác động của thu hồi đất đến đời sống người dân

Việc thu hồi đất nông nghiệp đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng. Nhiều hộ gia đình không còn nguồn thu nhập ổn định, gây ra những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Các chính sách hỗ trợ cần được xem xét để giúp người dân vượt qua giai đoạn khó khăn này.

II. Thách thức trong chuyển đổi nghề nghiệp của người dân ven đô

Chuyển đổi nghề nghiệp không phải là một quá trình dễ dàng. Người dân ven đô Hà Nội phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc tìm kiếm việc làm mới. Những khó khăn này bao gồm thiếu kỹ năng, thiếu thông tin về thị trường lao động và sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương.

2.1. Thiếu kỹ năng và đào tạo nghề

Nhiều người dân không có đủ kỹ năng cần thiết để tham gia vào thị trường lao động mới. Việc thiếu các chương trình đào tạo nghề phù hợp đã làm giảm khả năng tìm kiếm việc làm của họ.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận thông tin

Người dân thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về các cơ hội việc làm mới. Điều này dẫn đến việc họ không thể nắm bắt kịp thời các cơ hội việc làm phù hợp với năng lực của mình.

III. Phương pháp hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp hiệu quả

Để hỗ trợ người dân ven đô Hà Nội trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, cần có những phương pháp hiệu quả. Các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính và tư vấn việc làm là những giải pháp cần thiết.

3.1. Đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng

Các chương trình đào tạo nghề cần được triển khai rộng rãi để giúp người dân nâng cao kỹ năng. Điều này sẽ giúp họ có cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn trong thị trường lao động.

3.2. Hỗ trợ tài chính cho người dân

Cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho người dân để họ có thể đầu tư vào việc học tập và phát triển nghề nghiệp mới. Điều này sẽ giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn sau khi mất đất.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về chuyển đổi nghề nghiệp của người dân ven đô Hà Nội đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Những ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu này có thể giúp cải thiện đời sống của người dân và tạo ra những cơ hội việc làm mới.

4.1. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ

Các chương trình hỗ trợ đã giúp nhiều người dân tìm được việc làm mới. Sự tham gia của chính quyền địa phương trong việc tổ chức các khóa đào tạo nghề là rất quan trọng.

4.2. Đánh giá của người dân về hiệu quả chuyển đổi

Người dân đã có những đánh giá tích cực về các chương trình hỗ trợ. Họ cảm thấy tự tin hơn trong việc tìm kiếm việc làm mới và cải thiện thu nhập.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chuyển đổi nghề nghiệp

Chuyển đổi nghề nghiệp của người dân ven đô Hà Nội là một quá trình cần thiết và cấp bách. Cần có những chính sách hỗ trợ hiệu quả để đảm bảo người dân có thể ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp.

5.1. Tương lai của người dân ven đô Hà Nội

Người dân ven đô Hà Nội cần được hỗ trợ để có thể thích ứng với những thay đổi trong thị trường lao động. Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu thực tế của họ.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ

Cần có các đề xuất chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ người dân trong việc chuyển đổi nghề nghiệp. Điều này sẽ giúp họ có cơ hội phát triển bền vững trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh chuyển đổi việc làm của người dân ven đô sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp tại phường kiến hưng quận hà đông hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đô thị hóa là quá trình tất yếu đã và đang diễn ra trên phạm vi thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đường lối Đổi mới của Đảng và Nhà nước từ giữa những năm 1980 đã đưa Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể về cả kinh tế và xã hội.

Gắn liền với những thành tựu này là quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng trong phạm vi cả nước. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đi liền với việc xây dựng nhiều khu công nghiệp, khu đô thị. Tất cả các công trình này đòi hỏi phải có mặt bằng để xây dựng do đó nhu cầu về đất xây dựng là rất lớn. Để có đất cho mục đích trên, Nhà nước phải thu hồi một phần đất của nhân dân theo quy định tại điều 39 - Luật đất đai năm 2003.

Những khu đô thị, khu công nghiệp này được mọc lên rất nhiều không chỉ ở nội đô những thành phố lớn mà hiện nay nó được đưa ra các vùng nông thôn ngoại thành, ven đô, ngay trên những khu đất nông nghiệp. Như vậy, những mảnh đất nông nghiệp vốn là tư liệu sản xuất, nguồn kiếm sống duy nhất của người nông dân giờ đã bị thu hồi để dùng vào mục đích cho xây dựng các công trình công nghiệp và nhà ở. Theo số liệu do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa ra tại hội thảo “Nông dân bị mất đất- Thực trạng và giải pháp” tổ chức vào ngày 4/7/2011 tại Hà Nội cho biết tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên cả nước để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị lên tới 366 nghìn ha (chiếm gần 3,9% quỹ đất nông nghiệp), tính bình quân mỗi năm có gần 73,3 nghìn ha đất bị thu hồi. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên môi trường (với 31 tỉnh thành trong cả nước) tính đến ngày 1/1/2008 thì tổng diện tích đất trồng lúa của cả nước còn 4.643ha so với năm 2007.

Mức độ giảm thực tế bằng 1,1 lần so với kế hoạch giảm diện tích đất nông nghiệp năm 2006- 2007. [4] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc biệt, các khu vực kinh tế trọng điểm (2 vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc) là nơi có diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi lớn, chiếm trên 50% tổng diện tích thu hồi. Đó cũng là các khu vực có mật độ dân số cao. Đồng bằng sông Hồng là nơi có tỷ lệ bị thu hồi nhiều nhất với 4,4%, tiếp đến là Đông Nam Bộ 2,1%.

Ngoài đất được chuyển đổi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp vừa và nhỏ hoặc phát triển các khu đô thị tập trung, còn có những dự án lấy đất làm sân gôn. Chỉ trong 2 năm 2006-2008, đã có hơn 100 dự án sân gôn được cấp phép trên cả nước, đồng nghĩa với việc một diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là diện tích đất lúa thuộc diện "bờ xôi ruộng mật” đã bị thu hồi. Quá trình thu hồi đất nông nghiệp đã tác động trực tiếp đối với người nông dân đặc biệt là vấn đề việc làm. Báo cáo Kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (tháng 6/2012) nêu rõ: thống kê ở 20 tỉnh, thành phố từ năm 2006 – 2010 đã có 298.093 lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, nhưng chỉ có 177.894 lao động có việc làm.

Còn số liệu từ 2003-2008 của Bộ NN&PTNT cũng cho thấy, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã tác động đến đời sống của trên 627.000 gia đình và khoảng 95.000 lao động, 2,5 triệu nhân khẩu nông nghiệp. Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất ở có 1,5 lao động không có việc làm, mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm phải chuyển đổi nghề nghiệp.[10] Như vậy, lực lượng lao động nông thôn vốn đã bị dư thừa nhiều, việc làm thiếu, đời sống của những người nông dân bị thu hồi đất sẽ rất khó khăn và nhiều thách thức. Mất đất, không tìm được việc làm, thất nghiệp, đồng thời nhiều tệ nạn xã hội phát sinh và ngày càng gia tăng. Báo cáo giám sát nhấn mạnh: “Tình trạng thất nghiệp, không có việc làm đang là vấn đề bức xúc ở nhiều vùng thu hồi đất, tái định cư”.

Đây trở thành một vấn đề hết sức cấp bách, trở thành một vấn đề xã hội lớn cần giải quyết. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hóa thuộc loại nhanh nhất so với các địa phương khác trong cả nước. Điều này được thể hiện qua sự mở rộng phạm vi địa giới và sự tăng trưởng về số lượng các khu công nghiệp, các khu đô thị. Theo báo cáo mới nhất của Ủy ban Nhân dân thành phố cho biết đến năm 2010 Thành phố Hà Nội có kế hoạch thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng khoảng 5.201 ha đất nông nghiệp, tức là sẽ có khoảng 20 vạn lao động nông nghiệp phải chuyển nghề do mất đất sản xuất.

Mỗi năm Hà Nội thu hồi khoảng 1000 ha đất trong đó 80% là đất nông nghiệp. Nếu tính riêng từ năm 2005 đến nay, thành phố đã thu hồi 1.720 ha đất tương đương 57.580 hộ dân mất đất sản xuất, 5.927 hộ phải tái định cư. Trong số đó có 3,5 vạn hộ bị thu hồi 30% diện tích đất nông nghiệp chiếm 60% số hộ bị thu hồi đất.[41] Phường Kiến Hưng thuộc quận Hà Đông là một xã mới được chuyển thành phường. Phường Kiến Hưng chính là một nơi nằm trong sự giao thoa giữa nông thôn và thành thị rất điển hình.

Tại đây, quá trình thu hồi đất nông nghiệp cũng đã diễn ra và tạo ra những thay đổi lớn đến đời sống của người dân. Chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm đã có ảnh hưởng đến thu nhập, mức sống của người dân, cùng những hệ lụy về mặt xã hội. Từ đây nảy sinh nhiều câu hỏi cần được nghiên cứu để trả lời, trong đó có việc nghiên cứu từ giác độ xã hội học. Đây cũng là lý do để tôi chọn đề tài nghiên cứu “Chuyển đổi việc làm của người dân ven đô sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội” cho luận văn cao học của mình.

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2. Ý nghĩa khoa học Đề tài vận dụng cách tiếp cận xã hội học để phân tích, làm rõ một cách khách quan, logic những vấn đề đặt ra. Đó là áp dụng lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý cũng như các phương pháp xã hội học nhằm giải 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thích những ứng xử của người dân trong việc tìm kiếm việc làm mới, chuyển đổi sinh kế, thu nhập sau khi bị thu hồi đất…Đồng thời tìm hiểu xem những những biến đổi đó có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của người dân. Ý nghĩa thực tiễn Việc nghiên cứu đề tài giúp nhìn nhận một cách rõ nét nhất về những loại hình việc làm, tính ổn định và mức độ thu nhập hiện nay của người dân.

Đồng thời, tìm hiểu những ảnh hưởng của sự chuyển đổi đó đến cuộc sống, những khó khăn, mong muốn, nguyện vọng của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm thông tin giúp các nhà quản lý có những giải pháp hiệu quả giúp người dân có cuộc sống ổn định và tốt đẹp hơn. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Thu hồi đất nông nghiệp đang là một vấn đề diễn ra thường xuyên ở nhiều khu vực trên cả nước. Và những ảnh hưởng của quá trình thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống của chính những người dân, người nông dân bị thu hồi đất là một vấn đề đã và được nhiều người quan tâm.

Đây không chỉ là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước mà còn là mối quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Có rất nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu cũng như các bài viết trong và ngoài nước đã đề cập đến vấn đề thu hồi đất nông nghiệp và những vấn đề sẽ nảy sinh sau khi người dân không còn ruộng để canh tác nữa. Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về các tác động xã hội của việc thu hồi đất, điển hình là nghiên cứu “Tác động của quá trình thu hồi đất trên quy mô lớn tại vùng nông thôn Ethiopia- nghiên cứu trường hợp Bako-Tibe Woreda” [46] của tác giả Moges Gobena, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng hiện tại có rất ít các công trình nghiên cứu về tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống của người dân đặc biệt tại Châu Phi. Chính vì vậy mục đích của nghiên cứu này là chỉ ra các hệ quả của việc thu hồi đất 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tới sinh kế của người nông dân Ethiopia, hệ quả này bao gồm các tác động tới sinh kế, an ninh lương thực, sự quản lý các tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững.

Sau quá trình triển khai nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng: để tạo ra được một tình huống mà cả hai bên cùng có lợi thì phải đảm bảo các điều kiện có sự tham gia của các bên liên quan, có sự đánh giá tác động đến môi trường cũng như có các chính sách hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm…Tuy nhiên, điều tra thực nghiệm cho thấy việc triển khai các dự án thu hồi đất đều không đáp ứng được điều kiện trên: sự tham gia của các bên liên quan hầu như là không có đặc biệt là nông dân địa phương, không có các đánh giá tác động đến môi trường đặc biệt là việc phá rừng, không có chính sách hỗ trợ việc làm và hỗ trợ sinh kế thì bị hạn chế một cách thấp nhất. Việc thu hồi đất không gây ra sự di động của người dân mà nó ngày càng làm “xói mòn” sinh kế của họ. Những công việc mà họ có được từ các dự án thường mang tính chất tạm thời, điều kiện làm việc kém và mức lương thấp. Ở Trung Quốc, Kathy Le Mons Walker cũng cho thấy một bức tranh tương tự.

Trích dẫn nhiều nguồn tài liệu khác nhau, Walker cho biết ở Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1995 có 27,5 triệu mu1 vuông đất bị thu hồi. Tổng diện tích đất canh tác giảm 120 triệu mu trong tám năm tiếp theo, 1996-2004.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ