Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề của luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hƣớng phát triển bền vững tại một địa phƣơng cấp tỉnh Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hƣớng phát triển bền vững của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010 - 2023 Chương 4: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hƣớng phát triển bền vững ở tỉnh Hà Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.
Nghiên cứu về cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế - Về CCKT, C. Mác đã đƣa ra quan điểm về một CCKT hợp lý, đòi hỏi cơ cấu đó phải có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng, đáp ứng đƣợc các điều kiện nhƣ phù hợp với quy luật khách quan, xu thế chính trị trong khu vực và trên thế giới, thể hiện đƣợc tiềm năng sử dụng và khai thác các nguồn lực trong nƣớc [104]. - Đại biểu Rostow (1960) trong nghiên cứu "Các giai đoạn tăng trưởng kinh tế" [124] đã đƣa ra lý thuyết “cất cánh” và cho rằng, cần chia quá trình PTKT thành 5 giai đoạn là: giai đoạn truyền thống, giai đoạn chuẩn bị cất cánh, cất cánh, tăng trƣởng và cuối cùng là giai đoạn có mức tiêu dùng cao. Theo ông, ở mỗi giai đoạn đó, CCKT sẽ có sự dịch chuyển và biến đổi theo xu hƣớng tích cực.
- Học giả Tatyana P. Soubbotina đã làm rõ thêm quá trình phát triển kinh tế (PTKT) qua các giai đoạn NN, CN hoá, hậu CN. Học giả này cũng rất quan tâm đến cuộc cách mạng tri thức, trong đó đề cao vai trò của KHCN và chất xám trong quá trình phát triển của các quốc gia. Đằng sau sự PTKT là mối quan hệ khăng khít giữa TTKT với CDCCNKT.
Nếu không có chiến lƣợc PTBV thì mâu thuẫn giữa PTKT và bảo vệ môi trƣờng (BVMT) hay mâu thuẫn giữa CDCCNKT và BVMT sẽ không thể giải quyết đƣợc [130]. - Vào khoảng giữa những năm 1950, A.Lewis - nhà KT học ngƣời Mỹ gốc Jamaica - trong tác phẩm "Lý thuyết về PTKT", ông đã đƣa ra giải thích của mình về mối quan hệ giữa NN và CN trong quá trình tăng trƣởng, gọi là "Mô hình hai khu vực cổ điển". Mô hình này đƣợc hai nhà KT học John Fei và Gustac Ranis chính thức hóa áp dụng để phân tích quá trình TTKT ở các nƣớc đang phát triển. Đặc 8 trƣng chủ yếu của mô hình hai khu vực cổ điển là phân chia nền kinh tế thành hai khu vực CN và NN trong nền kinh tế nhị nguyên và nghiên cứu quá trình di chuyển lao động giữa hai khu vực.
Khu vực NN có dƣ thừa lao động và lao động dƣ thừa này dần dần đƣợc chuyển sang khu vực CN. Sự phát triển của CN quyết định quá trình tăng trƣởng của nền kinh tế, phục thuộc vào khả năng thu hút lao động dƣ thừa do khu vực NN tạo nên và mô hình của Lewis ở một khía cạnh nhất định còn giải thích nguồn gốc của những hậu quả XH, của sự phân hóa giàu nghèo trong quá trình tăng trƣởng kinh tế (TTKT) [118]. - Khi bàn về Lý thuyết phát triển cân đối, tác giả Nurkse và Rosentein - Rodan không sắp xếp thứ tự mức độ quan tâm đến các ngành trong nền kinh tế mà cho rằng phải phát triển đồng đều ở tất cả các ngành KT để chuyển dịch CCKT một cách nhanh chóng. Lý thuyết này phù hợp với các nƣớc đang phát triển thực hiện CNH hƣớng vào bên trong (hƣớng nội) hoặc thay thế hàng nhập khẩu.
Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế thì bộc lộ nhiều nhƣợc điểm, nhất là trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ [120]. - Akamatsu (Nhật Bản) đã đƣa ra lý thuyết phát triển theo mô hình "đàn nhạn bay" để giải thích sự bắt kịp của các nƣớc đang phát triển đối với các nƣớc phát triển và nhấn mạnh CDCCKT có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình đuổi kịp này. Nghiên cứu này cũng chỉ ra những ngành nào cần thúc đẩy trong mỗi giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) [102]. Cho đến đầu những năm 1990, hầu hết các nhà nghiên cứu KT đều cho rằng, áp dụng lý thuyết đàn nhạn bay để giải thích sự lan tỏa của CN tại các nƣớc Đông Á mang lại nhiều cơ hội và hiệu quả KT.
- Về mô hình CDCCKT và chính sách thúc đẩy chuyển dịch, Harry T.Oshima (1986) trong tác phẩm “Tăng trưởng KT ở các nước Châu Á gió mùa” [106], đã xem xét những khả năng thực hiện của những mô hình đã có: Đối với mô hình hai khu vực Lewis, Oshima đồng ý rằng khu vực NN có dƣ thừa lao động nhƣng theo ông, điều đó không phải lúc nào cũng xảy ra, đặc biệt vào lúc thời vụ căng thẳng, khu vực NN còn thiếu lao động. Vì vậy, quan điểm của Lewis cho rằng sự dƣ thừa lao động NN có thể chuyển sang khu vực CN mà không làm giảm sản 9 lƣợng NN là điều không thích hợp với đặc điểm châu Á, nhất là những vùng lúa nƣớc, ở đẩy sản lƣợng NN đƣợc tạo ra phụ thuộc vào đỉnh cao của thời vụ, ở những điểm không có dƣ thừa lao động. Oshima cũng cho rằng, về mặt lý thuyết phải đồng thời quan tâm đến cả hai khu vực CN và NN hoặc là ông cũng đồng ý với quan điểm của Ricardo cho rằng một mô hình phát triển phải đƣợc bắt đầu từ hiệu suất NN hoặc từ khả năng xuất khẩu sản phẩm CN để nhập khẩu lƣơng thực. Với quan điểm hƣớng tới một nền KTPT, Oshima đã đƣa ra hƣớng quan tâm đầu tƣ phát triển nền kinh tế theo 3 giai đoạn với những mục tiêu và nội dung phát triển khác nhau: + Giai đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng: Tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi theo hƣớng tăng cƣờng đầu tƣ phát triển NN.
+ Giai đoạn hai: Hƣớng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tƣ phát triển đồng thời cả NN và CN. + Giai đoạn sau khi có việc làm đầy đủ: Thực hiện phát triển các ngành KT theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động. Nhƣ vậy, theo mô hình của Oshima sự phát triển đƣợc bắt đầu bằng việc vẫn giữ lao động trong NN, nhƣng cần tạo thêm nhiều việc làm trong thời kỳ nhàn rỗi. Tiếp theo đó sẽ sử dụng lao động nhàn rỗi vào các ngành sản xuất CN sử dụng nhiều lao động, tạo việc làm trong những tháng nhàn rỗi sẽ nâng cao mức thu nhập của nông dân, mở rộng thị trƣờng trong nƣớc cho các NCN và DV.
Khi thị trƣờng lao động trở nên khắt khe hơn thì tiền công sẽ đƣợc tăng nhanh hơn, hầu hết các trang trại, xí nghiệp đều phải chuyển sang cơ giới hóa. Việc sử dụng máy móc cơ khí sẽ làm tăng năng suất lao động và tăng tổng thu nhập nhập trong nƣớc. Oshima cũng cho rằng quá trình tăng trƣởng và PTKT phải dựa trên động lực tích lũy và đầu tƣ đồng thời ở cả hai khu vực KT và bắt đầu từ NN. - Nghiên cứu về chính sách dẫn đến thành công trong quá trình chuyển dịch CCKT của một số nƣớc Đông Á, Ngân hàng thế giới (WB), năm 1993 có công trình nghiên cứu "Sự thần kỳ Đông Á" [132].
Còn tại công trình "Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á", tác giả Josep E. 10 - Về CCKT mới trong bối cảnh ngày nay ở các nƣớc đang phát triển, tác giả Justin Yifu Lin (2007) cho rằng, sự hình thành và CDCCNKT theo hƣớng CNH - HĐH ở các nƣớc đang phát triển là do cấu trúc KT khác nhau ở các giai đoạn khác nhau, quá trình PTKT là quá trình liên tục không cứng nhắc, thị trƣờng là cơ chế phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhƣng Nhà nƣớc đóng vai trò chủ động trong việc chuyển đổi từ giai đoạn thấp hơn sang giai đoạn cao hơn [115]. Nghiên cứu về phát triển bền vững *) Lịch sử hình thành khái niệm phát triển bền vững - Về nguồn gốc triết lý "phát triển bền vững", trƣớc đây đã có nhiều nhìn nhận khác nhau, chẳng hạn, học thuyết Mác đã coi con ngƣời là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên. Chính Ăngghen đã cảnh báo về “sự trả thù của giới tự nhiên” khi chúng bị tổn thƣơng [123].
Trong thập kỷ 1960 và 1970, các vấn đề MT đã đƣợc nhận thức với sự tiên đoán của những ngƣời theo chủ nghĩa Malthus mới về sự bùng nổ dân số ở các nƣớc đang phát triển hay sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng ô nhiễm MT. Tuy vậy, đến Hội nghị của Liên hợp quốc (LHQ) về MT con ngƣời (năm 1972 tại Stockholm), tầm quan trọng của vấn đề MT mới chính thức đƣợc thừa nhận. - Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (do Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN công bố) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới PTKT mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của XH và sự tác động đến MT sinh thái học" [110]. - Khái niệm này cũng đƣợc đề cập đến trong báo cáo "Tương lai của chúng ta" (Our Common Future) do Ủy ban MT và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) công bố năm 1987.
Báo cáo này ghi rõ: "Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Sau đó, năm 1992 tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về MT và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này. - Theo tuyên bố của Hội nghị thƣợng đỉnh Johannesburg về Phát triển bền 11 vững năm 2002, sự liên kết 3 trụ cột cơ bản của PTBV (KT, XH, MT) là cách tiếp cận phát triển mới trong bối cảnh hiện đại. Điều này cũng đã đƣợc Rogall G (2009) khẳng định trong nghiên cứu của mình rằng, PTBV là sự phát triển luôn giữ đƣợc sự kết hợp cân đối, hài hòa trên cả 3 trụ cột phát triển về KT, về XH và về sinh thái/ tài nguyên, MT [125].