CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu lao động 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Lao động Theo từ điển tiếng Việt, lao động được hiểu theo hai nghĩa của từ, là động từ và danh từ. Đối với động từ, lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, bao gồm lao động chân tay và lao động trí óc [9, 407]. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin: lao động chính là hoạt động lịch sử vĩ đại mà con người có được để tạo nên sự khác biệt về bản chất giữa con người với thế giới loài vật, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Mác viết: Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng mọi hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên.
Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự nhiên… Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó [10, 247]. Ăngghen cho rằng, lao động của loài người có 2 đặc trưng sau đây: Thứ nhất, lao động của con người là những hoạt động có mục đích, con người dùng các hoạt động đó để thực hiện các mục đích sẽ dự định trước; bằng cách con người vận dụng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên, cải biến các vật tự nhiên thành những sản phẩm cho con người sử dụng. Người lao động là yếu tố quan trọng bậc nhất của lực lượng sản xuất. Thứ hai, trong quá trình lao động, con người luôn tìm tòi suy nghĩ, năng động, sáng tạo, không chỉ sáng chế ra công cụ lao động có năng suất ngày càng cao mà 5 còn biết kết hợp công cụ lao động với đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm theo mục đích đã định.Mác cho rằng: “Những thời đại kinh tế khác nhau, không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất ra bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [10, 269].
Đối với danh từ, lao động là việc làm cụ thể hoặc sức người bỏ ra để tạo ra sản phẩm hay người bỏ công sức ra để làm việc gì [9, 407]. Về mặt này, có thể tiếp cận lao động ở hai phương diện: Thứ nhất, lao động, trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa. Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất. Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động.
Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động. Thứ hai, lao động với hàm ý là người lao động, người thợ hay nhân công, là người làm công ăn lương, đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng.
Khoản 1, Điều 3, Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 định nghĩa: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [13, 1]. Ở luận văn này, lao động được nghiên cứu với nghĩa của danh từ, đó là người lao động với trình độ chuyên môn kỹ thuật khác nhau, có tỷ trọng làm việc trong các ngành, các thành phần kinh tế cũng khác nhau. Cơ cấu lao động Về mặt định tính, cơ cấu là một phạm trù triết học, được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của hệ thống. 6 Nó được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định.
Cơ cấu là một thuộc tính của hệ thống. Về mặt định lượng, cơ cấu biểu thị cấu trúc của một hệ thống, gồm nhiều bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; biểu hiện mối quan hệ về tỷ trọng giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể hoặc là tỷ lệ giữa các bộ phận với nhau, bộ phận này tăng thì bộ phận kia giảm và ngược lại. Cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế - xã hội phản ánh hình thức cấu tạo bên trong của tổng thể lao động, biểu hiện sự tương quan giữa các bộ phận và mối quan hệ giữa các bộ phận đó trong tổng lao động xã hội. Đặc trưng của CCLĐ là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng lao động theo những tiêu chí nhất định.
CCLĐ có những thuộc tính cơ bản là: tính khách quan, tính lịch sử và tính xã hội. Về tính khách quan: CCLĐ bắt nguồn từ dân số và CCKT của một quốc gia. Tính khách quan của quá trình dân số và của CCKT xác định tính khách quan của CCLĐ xã hội. Về tính lịch sử: CCLĐ xã hội là một chỉnh thể tồn tại và vận động gắn liền với phương thức sản xuất xã hội.
Khi phương thức sản xuất xã hội vận động, biến đổi thì CCLĐ của một quốc gia cũng vận động, biến đổi theo. Về tính xã hội: CCLĐ mang tính xã hội đậm nét và sâu sắc. Quá trình phân công lao động xã hội phản ánh quá trình tiến hóa của lịch sử xã hội loài người. Khi lực lượng sản xuất có sự phát triển nhảy vọt thì đánh dấu sự phân công lao động xã hội mới.
Quá trình phát triển phân công lao động mới phù hợp với CCLĐ mới sẽ phản ánh trình độ văn minh của xã hội. Xét trên phương diện sản xuất, CCLĐ phản ánh cơ cấu các giai tầng của xã hội trong nền sản xuất xã hội. Thông qua CCLĐ có thể nhận biết được hoạt động kinh tế của các giai tầng xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Thông thường, tồn tại hai loại CCLĐ là: cơ cấu cung về lao động (cung thực tế và cung tiềm năng) và cơ cấu cầu về lao động (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân).
7 Cơ cấu cung về lao động phản ánh cơ cấu số lượng và chất lượng của nguồn lao động. Cơ cấu cầu về lao động phản ánh tỷ lệ lao động trong các ngành, các khu vực và toàn quốc. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, CCLĐ được hình thành chủ yếu do sự sắp xếp của nhà nước thông qua phân công lao động xã hội (theo kế hoạch năm năm và kế hoạch hàng năm) vào các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Trong cơ chế thị trường, CCLĐ được hình thành do quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.
Các chỉ tiêu chủ yếu để xác định CCLĐ là: Một là, CCLĐ theo không gian: bao gồm CCLĐ theo vùng lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện) và CCLĐ theo khu vực thành thị - nông thôn; được dùng để đánh giá thực trạng phân bố lao động xã hội về mặt không gian. Xây dựng kế hoạch định hướng vĩ mô để phân bố lại lực lượng lao động xã hội, từng bước cân đối hợp lý giữa tiềm năng về đất đai, tài nguyên thiên nhiên trong nội bộ từng địa phương cũng như giữa các vùng, tiểu vùng, giữa các khu vực trong phạm vi cả nước. Hai là, CCLĐ theo tính chất các yếu tố tạo nguồn: bao gồm CCLĐ dưới, trong và trên độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động; lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân; lao động trong độ tuổi lao động đang đi học… Đây là cơ sở để đánh giá thực trạng về quy mô và tình hình sử dụng nguồn lao động một cách hợp lý ở tỉnh, thành phố, vùng cũng như cả nước. Ba là, CCLĐ theo ngành kinh tế quốc dân: là cơ cấu lao động đang làm việc trên lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện) được chia theo ngành hoặc nhóm ngành kinh tế quốc dân; dùng để đánh giá thực trạng phân bố, chuyển dịch CCLĐ giữa các ngành hoặc nhóm ngành ở tỉnh, thành phố, vùng và cả nước.
Đồng thời, là căn cứ để nghiên cứu, xây dựng các kế hoạch định hướng và chương trình phát triển phù hợp với chiến lược phát triển riêng của mỗi ngành. Bốn là, CCLĐ theo các đặc trưng khác: bao gồm CCLĐ theo nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật, giới tính…; dùng để nghiên cứu, xác định, đánh giá đặc trưng cơ bản về văn hoá, chuyên môn kỹ thuật, tình trạng hoạt động của nguồn lao động để đề ra hệ thống các giải pháp khả thi trong 8 chiến lược phát triển bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng hiệu quả nguồn lao động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Chuyển dịch cơ cấu lao động Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao động vào các ngành và các vùng khác nhau. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao động vào các ngành, các vùng theo xu hướng hợp lý nhằm sử dụng đầy đủ và có hiệu quả cao các nguồn nhân lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế [20, 73].
Chuyển dịch CCLĐ bao gồm: chuyển dịch cơ cấu cung lao động theo hướng thay đổi cơ cấu số lượng và chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu sản xuất và trình độ lao động (trình độ học vấn; trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật; tính năng động, tính thích ứng, tác phong và văn hóa lao động…); chuyển dịch cơ cấu cầu lao động (sử dụng lao động) theo ngành, theo thành phần kinh tế, theo vùng lãnh thổ… Trong đó, hai loại chuyển dịch CCLĐ này có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau. Muốn chuyển dịch cơ cấu cầu lao động đòi hỏi cơ cấu số lượng và chất lượng lao động (cơ cấu cung lao động) phát triển đạt đến một trình độ nhất định phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế.