CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THỦY SẢN THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1- Cơ cấu kinh tế ngành và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thủy sản: Khái niệm, đặc trưng và những nhân tố tác động 1.1- Cơ cấu ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Cơ cấu kinh tế là cấu trúc của nền kinh tế với các bộ phận hợp thành, với vị trí, tỷ trọng tương ứng của mỗi bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy trong quá trình sản xuất xã hội. “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ, tương đối ổn định hợp thành. Có các loại cơ cấu kinh tế khác nhau: cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu ngành kinh tế kỹ thuật; cơ câu kinh tế theo vùng, cơ cấu đơn vị hành chính, lãnh thổ; cơ câu thành phần kinh tế, trong đó cơ cấu kinh tế kỹ thuật mà trước hết là cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ là quan trọng nhất” [10, tr 14]. Cơ cấu kinh tế có những đặc trưng: Thứ nhất: Nó là sự cấu thành giữa các bộ phận một cách hữu cơ.
Hai mặt cơ bản của chính sách kinh tế: mặt kỹ thuật và mặt kinh tế xã hội là một tổng thể hữu cơ, chỉ có thể phát triển trong sự nương tựa, thúc đẩy lẫn nhau như một quá trình tiến hóa tự nhiên. Từ đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển năng động, thúc đẩy nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường. Thứ hai: Cơ cấu kinh tế được hình thành, xác định trên cơ sở các quy luật kinh tế khách quan chi phối nền kinh tế, nhu cầu thị trường, lợi thế so sánh của nền kinh tế, của ngành, vùng và các nhân tố khác. Thứ ba: Cơ cấu kinh tế mạng tính lịch sử, cụ thể.
Không có một cơ cấu chung duy nhất cho mọi quốc gia hay một quốc gia trong mọi giai đoạn lịch sử. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Khi nói đến cơ cấu kinh tế, trước hết người ta nói đến cơ cấu kinh tế ngành, vì đây là biểu hiện đầu tiên của cơ cấu kinh tế và là tiền đề để hình thành mỗi nền kinh tế quốc dân. Có thể nói cơ cấu kinh tế ngành là góc độ nghiên cứu kinh tế chủ yếu, phản ánh mối liên hệ kinh tế kỹ thuật và công nghệ sản xuất. * Cơ cấu kinh tế ngành của nền kinh tế là kết cấu các ngành hợp thành tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương tác về mặt tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành đó với nhau và với nền kinh tế quốc dân.
Có nhiều cách phân loại ngành trong mỗi nền kinh tế: - Có thể dựa vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của mỗi ngành mà phân thành ba ngành chủ yếu: công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ. Hay chi tiết hơn: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ bản, thương mại… - Trong mỗi ngành lại bao gồm các phân ngành như: + Trong công nghiệp có: cơ khí, điện lực, hóa chất… + Trong nông nghiệp có: chăn nuôi, trồng trọt… + Trong ngành dịch vụ bao gồm: thương mại, bưu điện, du lịch. - Hoặc có thể phân theo tính chất tác động của lao động và đối tượng lao động, như: khối ngành khai thác, khối ngành chế biến, khối ngành dịch vụ… Cơ cấu ngành luôn vận động và biến đổi phát triển không ngừng, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường. Cho nên khi phân tích cơ cấu ngành, phải làm rõ tính quy luật của sự vận động, tìm ra phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phù hợp với các cơ cấu kinh tế khác và đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân trong từng giai đoạn phát triển chung của đất nước.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối liên hệ của các ngành hoặc các phân ngành trong ngành theo xu hướng, mục tiêu và phương hướng nhất định. Đó là sự thay đổi có mục đích, có định hướng và lựa chọn trên cơ sở phân tích đầy đủ, có cơ sở lý luận và thực tiễn, cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp để chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác một cách hợp lý và có hiệu quả hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 * Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH là quá trình làm thay đổi nền kinh tế từ chỗ có cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, sang cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ hiện đại, đó là quá trình làm tăng tốc độ và tỷ trọng của công nghiệp trong nền kinh tế gắn với sự biến đổi của công nghệ và năng suất lao động, tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững trong nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình ấy cơ cấu phân ngành trong nội bộ ngành cũng sẽ có những biến đổi đáng kể cả về chất và lượng.
Yêu cầu đặt ra là phải xác định được cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả, xác định được ngành mũi nhọn, ngành trọng điểm, những ngành có tương lai phát triển hoặc đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước, ngoài nước và những vấn đề kinh tế xã hội đặt ra trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước.2- Cơ cấu kinh tế ngành thủy sản và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thủy sản Thủy sản là ngành kinh tế - kỹ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất trực tiếp, một bộ phận cấu thành của nền sản xuất vật chất của xã hội, là ngành sản xuất vật chất mà quá trình sản xuất của nó phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên. Đặc trưng về mặt kinh tế - kỹ thuật Ngành thủy sản là một ngành sản xuất vật chất mang tính mùa vụ. Do sự tác động của điều kiện tự nhiên, môi trường sống và tập tính sống của các đối tượng, các chủng loại động thực vật làm cho các yếu tố sản xuất trong ngành thủy sản không sử dụng hết thời gian trong năm. Về sự biến đổi của đối tượng lao động, sau mỗi chu kỳ sản xuất, các đối tượng lao động của ngành thủy sản thay đổi từ giá trị sử dụng này thành giá trị sử dụng khác, hoặc cùng loại nguyên liệu có thể sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng khác, tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng.
Về công dụng kinh tế của sản phẩm, thủy sản là ngành sản xuất vật chất tạo ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất và đời sống xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Đặc trưng về mặt kinh tế xã hội Ngành thủy sản là ngành sử dụng công nghệ tiên tiến kết hợp với công nghệ truyền thống, sự phân công lao động xã hội và tính xã hội hóa của sản xuất được thể hiện sâu sắc. Hoạt động của ngành thủy sản bao gồm: sản xuất nguyên liệu (bao gồm hoạt động sản xuất của ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản), chế biến thủy sản và dịch vụ hậu cần thương mại nghề cá. Đối với Khánh Hòa, với bờ biển dài hơn 300km, các hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh hầu như đều gắn với biển.
Ở tỉnh đã có những làng nghề truyền thống hoạt động ở lĩnh vực thủy sản từ lâu đời, cùng với những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh theo quy mô công nghiệp với trang thiết bị hiện đại, thu hút nhiều lao động. Tất cả nhuãng hình thức này đều hoạt động cả trên ba lĩnh vực: nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, chế biến thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá. Phân loại thủy sản thành bốn ngành: khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản, dịch vụ hậu cần và thương mại thủy sản. Căn cứ của việc phân loại này dựa vào phương hướng sản xuất kinh doanh chủ yếu và sản phẩm được sản xuất ra là tư liệu sản xuất hay tư liệu tiêu dùng.
Phân loại thủy sản thành ba nhóm: nhóm ngành sản xuất nguyên liệu (bao gồm hoạt động sản xuất của ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản), nhóm ngành chế biến và nhóm ngành dịch vụ hậu cần và thương mại thủy sản. Căn cứ chủ yếu của sự phân chia này là tính chất khác nhau của sự biến đổi đối tượng lao động và công dụng sản phẩm của mỗi loại hoạt động. Phân loại các ngành thủy sản thành các ngành chuyên môn hóa hẹp Sự phân chia này dựa vào đặc trưng kỹ thuật trong quá trình sản xuất để phân thành các ngành chuyên môn hóa hẹp. Cụ thể: + Ngành nuôi trồng thủy sản, có các ngành chuyên môn hẹp là: Nuôi thủy sản thương phẩm (nuôi thủy sản nước mặn; nuôi thủy sản nước lợ; nuôi thủy sản nước ngọt.) và sản xuất giống thủy sản (Giống nuôi bố mẹ và giống nuôi thương phẩm) + Ngành chế biến thủy sản có: chế biến nội địa và chế biến xuất khẩu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 + Khai thác thủy sản có: Nghề lưới vây, lưới kéo, lưới rê, nghề câu… + Dịch vụ hậu cần và thương mại thủy sản: bao gồm các ngành cơ khí thủy sản, các hoạt đông dịch vụ cung ứng nguyên vật liệu, vật tư kỹ thuật, thông tin tiếp thị, tài chính tín dụng, hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu… * Cơ cấu kinh tế ngành thủy sản là mối quan hệ tỷ lệ giữa các phân ngành trong tổng thể ngành thủy sản, được lượng hóa bằng tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng sản phẩm thủy sản, tổng số lao động, tỷ trọng của ngành thủy sản tạo ra trong tổng thu nhập quốc dân ở lĩnh vực nông nghiệp, thương mại xuất khẩu. Cơ cấu kinh tế ngành thủy sản không phải là cố định, mà nó thay đổi theo từng thời kỳ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Cơ cấu kinh tế ngành thủy sản được đo bằng các chỉ tiêu: Số ngành chuyên môn hóa trong ngành thủy sản, tỷ trọng của các phân ngành trong tổng sản phẩm thủy sản; tỷ trọng lao động ngành thủy sản trong tổng lao số lao động trong nông nghiệp… Sự hình thành cơ cấu ngành thủy sản gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, nó phản ánh trình độ của phân công lao động, trình độ phát triển thủy sản và trình độ tổ chức quản lý.