Tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp giữ vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh Cao Bằng với tổng diện tích tự nhiên 6.707,86 km2. Đến năm 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh đạt 734 tỷ đồng theo giá so sánh năm 1994, giá trị sản xuất bình quân trên một héc-ta đất nông nghiệp đạt 20 triệu đồng và tổng sản lượng lương thực có hạt vượt 240.000 tấn. Mặc dù lao động nông - lâm nghiệp chiếm tới 80,4% tổng lực lượng lao động toàn tỉnh, sản xuất nông nghiệp nơi đây vẫn mang nặng tính tự cấp tự túc, quy mô nhỏ lẻ, phân tán và chịu nhiều rủi ro từ thời tiết vùng cao. Tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo ở mức rất cao 85,53%, tạo thành rào cản lớn đối với năng suất và năng lực cạnh tranh nông sản trên thị trường.

Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương, nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nông nghiệp hàng hóa, khảo sát toàn diện thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại 12 huyện và 01 thị xã của tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2000 - 2011, từ đó xác lập các định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020. Luận văn mang giá trị thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học hỗ trợ chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang các mô hình canh tác đạt giá trị từ 50 đến 70 triệu đồng trên mỗi héc-ta, nâng cao thu nhập cho cư dân tại 189 xã, phường, thị trấn và thúc đẩy nông nghiệp hàng hóa phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kinh tế chính trị Mác - Lênin về phân công lao động xã hội và quy luật phát triển sản xuất hàng hóa. Theo quan điểm kinh điển, phân công lao động xã hội là nền tảng tất yếu thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất, biến nông nghiệp từ tự cung tự cấp thành nền nông nghiệp hàng hóa gắn liền với thị trường mở rộng. Đồng thời, đề tài tiếp cận lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành hiện đại, nhấn mạnh xu hướng chuyển đổi từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, giảm tỷ trọng trồng trọt truyền thống để gia tăng tỷ trọng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và công nghiệp chế biến nông sản.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh ba khái niệm trung tâm: nông nghiệp hàng hóa, cơ cấu cây trồng - vật nuôi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo định hướng thị trường. Mô hình nghiên cứu đánh giá sự tương tác giữa điều kiện sinh thái tự nhiên và kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Tỉnh Cao Bằng có 3 nhóm đất chính với 24 loại đất phân bố trên địa hình đồi núi dốc, kết hợp hệ thống 5 lưu vực sông lớn gồm sông Bằng Giang, sông Hiến, sông Gâm, sông Bắc Vọng, sông Quây Sơn cùng 47 hồ chứa thủy lợi, tạo nên các tiểu vùng khí hậu đặc thù thuận lợi cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê, Cục Thống kê tỉnh Cao Bằng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy trong giai đoạn 2000 - 2011. Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp duy vật biện chứng, thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp tổng hợp cân đối liên ngành.

Về quy mô mẫu và cách thức chọn mẫu, nghiên cứu thu thập dữ liệu tổng thể bao phủ toàn bộ 189 đơn vị hành chính cấp xã thuộc 12 huyện và 01 thị xã của tỉnh. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành chọn mẫu khảo sát điển hình đối với 259 trang trại nông nghiệp trên địa bàn để đánh giá thực trạng vốn, diện tích đất canh tác và giá trị sản phẩm hàng hóa. Việc kết hợp chuỗi dữ liệu vĩ mô toàn tỉnh với khảo sát chọn mẫu thực địa giúp đảm bảo tính đại diện cao, phản ánh chân thực xu hướng chuyển dịch kinh tế nông nghiệp vùng cao biên giới qua chuỗi thời gian 11 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2000 - 2011 đã ghi nhận bốn kết quả chuyển dịch nổi bật:

Thứ nhất, cơ cấu diện tích gieo trồng chuyển biến theo hướng đa dạng hóa sản phẩm thương phẩm. Tỷ trọng diện tích lúa giảm liên tục từ 38,2% năm 2001 xuống 31,6% năm 2011 tương ứng 29.420 ha. Ngược lại, diện tích hoa màu tăng từ 43,2% lên 48,9% đạt 45.525 ha, diện tích cây ăn quả đạt 3.005 ha và diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 585 ha. Cây công nghiệp ngắn ngày mũi nhọn ghi nhận bước tiến lớn, tiêu biểu là diện tích trồng thuốc lá năm 2011 đạt 3.436 ha, tăng 109,89% và sản lượng đạt 5.972 tấn, tăng 138,49% so với năm 2005.

Thứ hai, ngành chăn nuôi có sự tái cơ cấu mạnh mẽ giữa các đàn gia súc. Đàn bò tăng trưởng bình quân 5,95% mỗi năm, đạt 176.102 con vào năm 2010 so với 110.073 con năm 2001. Đàn lợn đạt 340.799 con và đàn gia cầm đạt gần 2,4 triệu con. Riêng đàn trâu giảm còn 107.288 con năm 2010 do hiện tượng thoái hóa giống và ảnh hưởng của thiên tai rét đậm rét hại làm chết gần 30.000 con gia súc trong các năm 2008 và 2011.

Thứ ba, giá trị sản xuất trồng trọt năm 2010 đạt 600,7 tỷ đồng, chiếm 68,24% giá trị ngành; chăn nuôi chiếm 31,75% với 191,6 tỷ đồng. Các công thức luân canh tiến bộ như mô hình thuốc lá xen lúa mùa mang lại doanh thu trên 70 triệu đồng trên mỗi héc-ta, cao hơn 30 triệu đồng so với hai vụ lúa truyền thống.

Thứ tư, kinh tế trang trại bứt phá từ 20 trang trại năm 2001 lên 259 trang trại năm 2010, vượt 159% so với chỉ tiêu của Nghị quyết số 09-NQ/TU, tạo ra tổng giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ trên 16 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tại Cao Bằng phản ánh sự thích ứng dần của kinh tế hộ với cơ chế thị trường. Động lực chính đến từ việc hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung gắn với nhà máy chế biến mía đường, thuốc lá và chính sách chuyển đổi 1.269 ha đất nương rẫy sang trồng cỏ nuôi bò nhốt chuồng, giúp tăng thu nhập thêm 16 triệu đồng trên mỗi héc-ta tại Bảo Lạc và Bảo Lâm.

Dù vậy, tiến trình chuyển dịch còn gặp trở ngại do hạ tầng giao thông yếu kém, toàn tỉnh có 1.383 km đường xã thì đường đất chiếm 76,7% tương ứng 1.061 km và đường nhựa toàn tỉnh chỉ chiếm 9,3%. Tỷ lệ lao động nông - lâm nghiệp chưa qua đào tạo lên tới 85,53% cản trở việc tiếp thu kỹ thuật mới. So sánh với các nghiên cứu tại Lạng Sơn và Bắc Kạn, tốc độ chuyển đổi chăn nuôi và thủy sản tại Cao Bằng diễn ra chậm hơn do thời tiết mùa đông khắc nghiệt và thiếu cơ sở chế biến sâu. Các dữ liệu này được thể hiện rõ ràng qua biểu đồ biến động diện tích gieo trồng giai đoạn 2001 - 2011, biểu đồ tăng trưởng đàn gia súc và bảng phân tích hiệu quả kinh tế trên một héc-ta canh tác theo từng công thức luân canh mùa vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phát triển nông nghiệp hàng hóa tại Cao Bằng, nghiên cứu đưa ra bốn nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Trung tâm Khuyến nông đưa các giống lúa lai Nhị ưu 838, ngô lai và giống bò lai Sind vào sản xuất, phấn đấu nâng tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật lên trên 70%, nâng giá trị sản xuất bình quân đạt từ 50 đến 70 triệu đồng/ha/năm trong giai đoạn 2012 - 2016.

Thứ hai, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và kiên cố hóa hệ thống thủy lợi. Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Giao thông Vận tải và Sở Nông nghiệp đẩy mạnh nhựa hóa, bê tông hóa 300 km đường giao thông liên xã, hạ tỷ lệ đường đất từ 76,7% xuống dưới 40%, đồng thời nâng cấp hệ thống kênh mương nhằm đảm bảo tưới tiêu chủ động cho trên 30.000 ha đất canh tác vào năm 2018.

Thứ ba, mở rộng thị trường tiêu thụ và phát triển chuỗi liên kết kinh tế trang trại. Sở Công thương kết hợp với các doanh nghiệp bao tiêu nông sản duy trì ổn định vùng nguyên liệu mía 2.000 ha, thuốc lá 4.000 ha và chè đắng 1.100 ha gắn với các nhà máy chế biến, nâng số lượng trang trại hàng hóa tập trung lên 400 trang trại vào năm 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp các trường dạy nghề tổ chức đào tạo ngắn hạn cho 50.000 lao động nông thôn, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong nông - lâm nghiệp từ 14,47% lên mức 35% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cán bộ quản lý và cơ quan hoạch định chính sách nông nghiệp địa phương. Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Nông nghiệp các huyện có thể ứng dụng số liệu thực chứng tại 189 xã, phường để xây dựng quy hoạch nông nghiệp hàng hóa, hoàn thiện chính sách hỗ trợ 259 trang trại và phân bổ ngân sách đầu tư công.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển. Công trình cung cấp hệ thống lý luận Mác - Lênin về phân công lao động xã hội gắn với thực tế chuyển dịch nông nghiệp miền núi, là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu kinh tế nông thôn vùng cao biên giới.

Thứ ba, các doanh nghiệp chế biến nông sản, hợp tác xã và chủ trang trại khu vực Đông Bắc. Các đơn vị kinh doanh có thể khai thác dữ liệu quy hoạch vùng nguyên liệu mía 2.000 ha, thuốc lá 3.436 ha và mô hình chăn nuôi bò trên 1.269 ha đồng cỏ để xây dựng kế hoạch đầu tư chuỗi giá trị.

Thứ tư, các tổ chức phát triển nông thôn và cơ quan quản lý dự án giảm nghèo bền vững. Các chuyên gia sinh kế có thể tham khảo bài học thực tiễn về chuyển đổi từ tập quán tự túc sang sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng cao cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại Cao Bằng giai đoạn 2000 - 2011 diễn ra theo xu hướng nào?

Cơ cấu cây trồng chuyển dịch rõ nét từ độc canh lúa sang phát triển đa dạng các loại cây hoa màu và cây công nghiệp. Tỷ trọng diện tích lúa giảm từ 38,2% năm 2001 xuống 31,6% năm 2011, trong khi tỷ trọng hoa màu tăng lên 48,9% đạt 45.525 ha và diện tích thuốc lá đạt 3.436 ha mang lại giá trị thương phẩm cao.

Rào cản lớn nhất đối với phát triển nông nghiệp hàng hóa tại tỉnh Cao Bằng là gì?

Hai điểm nghẽn then chốt là hệ thống hạ tầng giao thông và chất lượng nguồn nhân lực. Toàn tỉnh có tới 76,7% chiều dài đường xã là đường đất gây ách tắc trong lưu thông nông sản. Bên cạnh đó, 85,53% lao động nông - lâm nghiệp chưa qua đào tạo, làm hạn chế khả năng áp dụng kỹ thuật thâm canh tiên tiến.

Mô hình canh tác nào đã khẳng định hiệu quả kinh tế vượt trội so với trồng lúa truyền thống?

Mô hình luân canh 3 vụ gồm thuốc lá đông xuân xen lúa mùa lai mang lại doanh thu trên 70 triệu đồng/ha, cao hơn 30 triệu đồng/ha so với 2 vụ lúa giống cũ. Ngoài ra, mô hình nuôi cá kết hợp lúa cũng cho thu nhập cao hơn sản xuất lúa thuần túy 15 triệu đồng/ha.

Ngành chăn nuôi tại Cao Bằng có những chuyển biến then chốt nào trong giai đoạn 2001 - 2010?

Đàn bò phát triển nhanh đạt 176.102 con năm 2010 với tốc độ tăng bình quân 5,95%/năm nhờ mở rộng 1.269 ha đất trồng cỏ. Ngược lại, đàn trâu giảm còn 107.288 con do hiện tượng thoái hóa giống và các đợt rét hại lịch sử làm chết gần 30.000 con trâu, bò.

Kinh tế trang trại đóng góp vai trò gì trong phát triển nông nghiệp hàng hóa của địa phương?

Kinh tế trang trại có bước tăng trưởng vượt bậc từ 20 trang trại năm 2001 lên 259 trang trại năm 2010, vượt 159% kế hoạch đề ra. Mô hình trang trại đóng vai trò nòng cốt trong tích tụ ruộng đất, chuyển giao kỹ thuật và tạo ra giá trị hàng hóa dịch vụ trên 16 tỷ đồng mỗi năm.

Kết luận

  • Khẳng định chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi từ tự cấp tự túc sang nông nghiệp hàng hóa là xu thế tất yếu nhằm phát huy lợi thế sinh thái tại Cao Bằng.
  • Đánh giá toàn diện thành tựu giai đoạn 2000 - 2011 với giá trị nông nghiệp đạt 734 tỷ đồng và sự bứt phá của 259 trang trại hàng hóa.
  • Nhận diện chính xác các rào cản hạ tầng khi đường đất chiếm 76,7% và 85,53% lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo chuyên môn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về giống mới, hạ tầng giao thông, liên kết chuỗi giá trị và đào tạo nghề với lộ trình hoàn thiện đến năm 2020.
  • Khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và nhà khoa học đẩy mạnh ứng dụng kết quả luận văn để thúc đẩy nông nghiệp Cao Bằng phát triển bền vững và hội nhập kinh tế sâu rộng.