chương 1, theo Luật Công nghệ Cao (2014): “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có” c. Nông nghiệp công nghệ cao Nông nghiệp công nghệ cao là “nền nông nghiệp tiên tiến trong nền kinh tế - xã hội hiện đại hóa, cơ giới cao, trên cơ sở vận dụng những thành tựu công nghệ sinh học, sinh thái và môi trường; hướng nhu cầu xã hội và sự phát triển nông nghiệp theo 7 hướng bền vững, an toàn như nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái học… đảm bảo tạo ra đủ số lượng và chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội chủ nghĩa hội và nền sản xuất đó không làm thay đổi môi trường”. Tại chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016- 2020 ông Trần Văn Trung cho rằng: “Việc ứng dụng những công nghệ mới như: công nghệ vũ trụ, công nghệ tin học, laser, tự động hóa, năng lượng mới, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học …. vào nông nghiệp, làm ảnh hưởng đến tiến bộ khoa học công nghệ, kinh tế nông nghiệp và có thể hình thành công nghệ cao, công nghệ mới của ngành sản xuất nông nghiệp mới, đều có thể gọi là NNCNC”.
Thuật ngữ “nông nghiệp công nghệ cao” ra đời vào năm 1999 với nội dung: Là tất cả kỹ thuật công nghệ hiện đại, ít phụ thuộc vào môi trường được đưa vào sản xuất nông nghiệp, tập trung vốn cao và có khả năng làm gia tăng năng suất và chất lượng nông sản. Các kỹ thuật công nghệ hiện đại này có thể là công nghệ gen, vi nhân giống, sản xuất giống lai, công nghệ tưới và bón phân nhỏ giọt, quản lý dịch hại tổng hợp, canh tác hữu cơ, cây trồng không cần đất, trồng cây trong nhà có mái che, kỹ thuật chuẩn đoán bệnh nhanh, và vi khuẩn, công nghệ cao trong thu hoạch và bảo quản. Nông nghiệp công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, CNTN, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ” .Từ các quan điểm trên về nông nghiệp công nghệ cao, theo tác giả: Nông nghiệp công nghệ cao là sự ứng dụng khoa học công nghệ phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội vào quá trình sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất cao, an toàn, giá trị kinh tế vượt trội so với sản phẩm nông nghiệp truyền thống. - Đặc điểm của nông nghiệp công nghệ cao + Nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) vẫn là hoạt động nông nghiệp nên đối tượng sản xuất chính vẫn là cây trồng và vật nuôi nhưng bản chất của chúng có thể thay đổi dưới tác dụng của KHCN.
Vì thế, nông nghiệp CNC tạo ra những giống cây con mới cho năng suất cao, chất lượng tốt và thời gian sinh trưởng ngắn hơn. + Đất trồng dần dần được thay thế bằng các giá thể hay dung dịch chất dinh dưỡng nhưng đất trồng ngày càng có giá trị cao hơn do diện tích ngày càng bị thu hẹp mà các hoạt động của nông nghiệp CNC đều tiến hành trên nền của đất. + Nông nghiệp CNC là nền nông nghiệp được tích hợp bởi nhiều công nghệ với trình độ chất xám cao. Hoạt động nông nghiệp không chỉ đầu tư vào kiến thức nông 8 học mà còn phải nghiên cứu và ứng dụng các ngành KHCN khác vào trong sản xuất của mình.
Thêm vào đó, mỗi ngành khoa học lại liên quan đến nhiều ngành khoa học khác nhau nhưng chúng đều có mối quan hệ tác động lẫn nhau và được ứng dụng trong SXNN ngày càng sâu rộng. + Việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã tạo ra phương thức SXNN theo hướng SXNN tập trung, hàng hóa được tạo ra với khối lượng lớn. Các xí nghiệp nông nghiệp được xây dựng theo kiểu mới, có sự đồng nhất về công nghệ, kỹ thuật và tính chuyên môn sâu + Quy trình sản xuất khép kín từ khâu nghiên cứu, ứng dụng sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nông sản. Thị trường tiêu thụ nông sản ứng dụng công nghệ cao mang tính hàng hóa lớn và tập trung; thị trường tập trung theo kiểu “bao thầu trọn gói” từ thị trường đầu vào cho đến thị trường đầu ra và thường do một công ty hay doanh nghiệp điều hành.
+ Việc ứng dụng kỹ thuật máy tính vào nông nghiệp ngoài những lĩnh vực truyền thông, phân tích dữ liệu quản lý; còn giúp con người xử lý những dữ liệu sinh học và tạo ra những cây trồng hay vật nuôi ảo để mô phỏng sự phát triển của chúng. - Vai trò của nông nghiệp công nghệ cao + Ứng dụng phó với biến đổi khí hậu: Việt Nam là một trong những nước hứng chịu hậu quả nặng nề nhất từ các hiện tượng biến đổi khí hậu hàng năm. Nếu không ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp thì nền nông nghiệp lạc hậu sẽ chịu thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm. + Chống lại sự phá hoại của sâu, bệnh: những công trình nghiên cứu nguồn giống biến đổi gen giúp tăng sức đề kháng của cây trồng, vật nuôi trước sâu và bệnh góp phần giảm tối đa thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp.
+ Giảm công sức lao động: so với hình thức sản xuất lạc hậu cũ thì nông nghiệp CNC giúp bà con giảm tối đa sức lao động nhờ sự cơ giới hóa, tự động hóa của máy móc. + Giảm thời gian nuôi trồng, tăng giá trị kinh tế: cũng nhờ sự cơ giới hóa và tự động hóa mà người dân rút ngắn thời gian thu hoạch, nâng cao giá trị kinh tế. Ngoài ra, những công nghệ ứng dụng trong nông nghiệp cũng đảm bảo tính chính xác hơn giúp giá trị sản phẩm trên thị trường nông sản ngày một cải thiện, có giá trị gia tăng lớn và hoạt động theo chuỗi giá trị toàn cầu. + Tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị sản xuất, quy mô hóa, tập trung hóa quá trình sản xuất nông nghiệp: so với những hoạt động sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún xưa cũ thì nhờ công nghệ cao, bà con dễ dàng tập trung mở rộng quy mô sản xuất, tiết kiệm chi phí, đem lại nguồn thu lớn hơn rất nhiều.
9 Những chủ thể sản xuất NNCNC tự liên kết với nhau hình thành nên chủ thể sản xuất nông phẩm có sức cạnh tranh cao, tạo sức hấp dẫn và có khả năng giúp đỡ, hỗ trợ, kết nối những chủ thể sản xuất nông nghiệp khác để hình thành nên chuỗi giá trị. Trên cơ sở liên kết này mà thu hút sự tham gia của các đối tác cung ứng vật tư, giống cây trồng, vật nuôi; các xí nghiệp chế biến; các nhà vận chuyển, xuất khẩu; các nhà phân phối. tạo thành chuỗi giá trị từ cung ứng các yếu tố đầu vào để sản xuất nông phẩm, đến đưa nông phẩm đã qua đóng gói, chế biến tới người tiêu dùng. Từ đó mà tiến hành xây dựng thương hiệu cho nông phẩm Việt Nam và khai thác tối đa lợi thế của chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể của nông phẩm.
Như vậy, NNCNC không chỉ là thành tựu giá trị của các nhà khoa học, đơn vị nghiên cứu mà nó còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với người nông dân nói riêng và cả nền nông nghiệp nói chung. NNCNC vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy cơ cấu lại ngành nông nghiệp nước ta. Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao Để hiểu rõ về khái niệm “Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao”, trước tiên, chúng ta cần phải nắm rõ “Thế nào là chính sách?”. Theo quan điểm của tác giả James Anderson được nêu trong Giáo trình Chính sách kinh tế xã hội của Trường ĐH Kinh tế duốc dân, chính sách được hiểu là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.
Theo Đỗ Phú Hải (2012): “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” Từ khái niệm “chính sách” và khái niệm “nông nghiệp công nghệ cao”, có thể hiểu “chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao” là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định là thúc đẩy phát triển và ứng dụng có hiệu quả công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả hiện tại và lâu dài.2 Nguyên lý cơ bản về chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh 1.1 Nguyên tắc của chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao Việc xác định chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao là định hướng đúng. Tuy nhiên, cần xác định chỉ tiêu cụ thể để thị trường sản phẩm, quy mô đặc trưng địa lý mới có thể triển khai hiệu quả, cần tập trung ưu tiên năm nguyên tắc 10 sau: Thứ nhất, lựa chọn đúng sản phẩm, khâu đột phá cho quy trình và công nghệ cao để đáp ứng, áp dụng thích hợp, tránh tình trạng chạy theo những công nghệ cao đắt đỏ, gây nợ nần và rủi ro cao nhưng không thiết thực, không đạt hiệu quả phát triển bền vững. Thứ hai, trong sản xuất nông nghiệp, giống là khâu then chốt, mang giá trị gia tăng cao nhất cho sản phẩm, nhưng ta lại chưa phát triển giống tốt. Hiện, mỗi năm chúng ta phải chi 5 triệu USD để nhập giống cây trồng, vật nuôi.
Nhưng trong 15 năm qua, cả nước mới chỉ có 270 giống được bảo hộ. Đã đến lúc phải quan tâm thực sự đến khâu giống.