chương 1). Lịch sử nghiên cứu 3. Tổng quan các công trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu và mối quan hệ với sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Trong thời gian tìm hiểu về đề tài, các tài liệu, luận án, luận văn có liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng và BĐKH đã được nhiều nhà khoa học tiến hành nghiên cứu với nhiều mục đích khác, và cho ra những sản phẩm khác nhau, cụ thể như sau: Sách “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” của Viện khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường thực hiện ở Hà Nội, của tác giả Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu và các cộng sự vào năm 2010 cung cấp các kiến thức cơ bản về BĐKH, các hiệp định về BĐKH, lịch sử cũng như các sự kiện quan trọng về BĐKH năm 2010. Ấn phẩm còn làm nổi bật tình hình BĐKH tại Việt Nam, thống kê các kết quả về kịch bản BĐKH nước ta năm 1994, 1998, 2009.
Đặc biệt ấn phẩm còn đưa ra những nhận định tổng quát nhất về các tác động của BĐKH đến tự nhiên và KT – XH. Tuy nhiên, ấn phẩm chủ yếu nghiên cứu về BĐKH, phần lớn các phân tích tập trung vào tác động của BĐKH trong tự nhiên. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ kế thừa các nội dung liên quan BĐKH và dựa trên các phân tích về tác động của BĐKH trên 4 phạm vi toàn cầu, quốc gia sẽ vận dụng vào phân tích tác động của BĐKH ở địa phương mà cụ thể là tại tỉnh Bến Tre. Sách “Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng” của Viện khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường thực hiện ở Việt Nam, xuất bản năm 2011, đã hoàn thành hai trong tám nhiệm vụ quan trọng là đánh giá mức độ và tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương; xác định các giải pháp ứng phó.
Tài liệu là tiền đề để tác giả có thể đánh giá các tác động của BĐKH trong NN ở ĐBSCL cũng như ở Bến Tre. Từ đó tạo cơ sở thực tiễn đánh giá về cây trồng ở vùng ĐBSCL. “Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam” của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2016 đưa ra các số liệu phân tích về BĐKH và các kịch bản có thể xảy ra trong nhiều năm tới. Đây được xem là nguồn cung cấp các thống kê về BĐKH cho đề tài của tác giả.
Với nguồn tài liệu này, tác giả sẽ kế thừa các thống kê về BĐKH tại Việt Nam, cũng như vùng ĐBSCL để thấy được tình hình thực tiễn về BĐKH tại khu vực cũng như địa phương. Từ đó, nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong bối cảnh BĐKH sẽ cụ thể hơn. “Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương, Bùi Thị Sen đăng trên tạp chí Công thương năm 2020 nghiên cứu về thực trạng sử dụng đất phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN, thực trạng cơ cấu trong nội bộ ngành NN, cũng như tăng trưởng N – L – TS của Việt Nam, giai đoạn 2012 – 2019. Bên cạnh đó, đề tài còn chỉ ra các hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN ở Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp.
Đề tài được thực hiện trong giai đoạn gần đây nhất nên giá trị thực tiễn cao, giúp cho tác giả có những nhận định đúng đắn hơn, chính xác hơn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN tại Việt Nam. Trên cơ sở đề tài đã thực hiện, tác giả vận dụng vào phân tích chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại địa bàn nghiên cứu của mình. Báo cáo “Tổng hợp tình hình hạn hán, xâm nhập mặn khu vực miền Nam giai đoạn 2019 – 2020” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã vẽ ra bức tranh cơ bản về những ảnh hưởng của đợt hạn xâm nhập mặn lịch sử 2019 – 2020 vừa qua tại ĐBSCL. Mà cụ thể báo cáo đã thống kê những số liệu mới nhất về tình hình hạn 5 xâm nhập mặn và tác động của nó, cũng như dự báo và đánh giá những thay đổi về SX, sinh hoạt của người dân trong đợt mặn lịch sử này tại ĐBSCL.
Báo cáo phần nào phản ánh được tác động của BĐKH đến NN và nông thôn. Chính vì vậy, tác giả có thêm cơ sở để nhận định về sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng cũng như chuyển dịch cơ cấu NN trong bối cảnh BĐKH tại tỉnh Bến Tre. So với nghiên cứu này, đề tài của tác giả phân tích đầy đủ hơn các biểu hiện của BĐKH và cụ thể hơn về địa bàn nghiên cứu (một tỉnh). “Nông nghiệp thông minh ứng phó với biến đổi khí hậu” của CSA năm 2015 tập trung nghiên cứu bối cảnh BĐKH của Việt Nam và tác động của nó đến NN.
Ấn phẩm chỉ ra mối quan hệ giữa NN và BĐKH, đưa ra một số mô hình NN thông minh như quản lí phân chuồng thông minh với khí hậu tại Làng Mạ ở Miền Bắc Việt Nam,. Điểm nổi bật hơn hẳn của ấn phẩm so với các ấn phẩm, đề tài khác là trực quan hoá thông tin thông qua infographic. Các mô hình NN thông minh cũng là những nguồn thông tin hữu ích cho tác giả trong phân tích và đề xuất giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp trong bối cảnh BĐKH như hiện nay. Luận án “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững ở tỉnh Nghệ An” của tác giả Lê Bá Tâm do PGS.
An Như Hải hướng dẫn năm 2016 đã làm sáng tỏ các lí luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN theo hướng phát triển bền vững; chỉ rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN theo hướng phát triển bền vững tại tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2008 – 2015; đề ra các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN theo hướng phát triển bền vững tại tỉnh Nghệ An. Chính vì vậy, dựa trên nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác giả sẽ vận dụng các cơ sở lí luận có chọn lọc trong nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong bối cảnh BĐKH tại tỉnh Bến Tre. Luận văn “Chuyển dịch cơ cấy cây trồng tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Hương do TS. Phạm Thị Xuân Thọ hướng dẫn năm 2014 là luận văn nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 1995 – 2012.
Cùng hướng nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tác giả kế thừa cách thức và phương pháp nghiên cứu nhằm áp dụng cho một địa bàn nghiên cứu khác. Đồng 6 thời, tác giả còn mở rộng và đặt trong bối cảnh BĐKH – một vấn đề đang được quan tâm hàng đầu trên thế giới, đây cũng là một điểm mới trong đề tài của tác giả. Luận văn “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng): thực trạng và định hướng” do tác giả Nguyễn Chí Tuấn thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Thị Xuân Thọ năm 2012 đã đáp ứng đầy đủ các nội dung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế như: cơ sở lí luận và thực tiễn; thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại huyện Lâm Hà giai đoạn 2000 – 2010; định hướng và giải pháp.
Tuy nhiên, đề tài đã được thực hiện trong khoảng thời gian khá lâu nên sẽ có những khác biệt về tình hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng so với hiện nay. Ngoài những nét tương đồng về chuyển dịch cơ cấu thì đề tài của tác giả hoàn toàn độc lập với đề tài nghiên cứu này. Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc, tác giả vận dụng các cơ sở lí luận đã có vào phần nghiên cứu và nghiên cứu ở cấp chi tiết hơn là chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Luận văn “Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại tỉnh Phú Yên” của tác giả Lê Minh Quang do PGS.
Trần Hồng Thái hướng dẫn năm 2016 đã cung cấp đầy đủ, chi tiết về cơ sở lí luận, thực tiễn và phân tích thực trạng, những tác động; đặc biệt đề tài đã làm nổi bật giải pháp thích ứng thông qua bản đồ phân vùng không gian phục vụ chuyển dịch cơ cấu NN tại tỉnh Phú Yên. Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu gắn với chuyên ngành BĐKH nên đề tài chưa làm nổi bật khía cạnh KT – XH của những tác động của BĐKH. Do đó, tác giả sẽ vừa kế thừa, vừa phát triển hướng nghiên cứu này trên địa bàn nghiên cứu khác (tỉnh Bến Tre). Nhìn chung, các nguồn tài liệu, luận án, luận văn về chuyển dịch cơ cấu NN trong bối cảnh BĐKH còn khá ít, chủ yếu tập trung vào BĐKH hoặc chuyển dịch cơ cấu NN.
Có nguồn tài liệu thể hiện đánh giá tác động của BĐKH nhưng chưa cụ thể cho một ngành kinh tế nào. Như vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, tác giả tiếp nhận những vấn đề liên quan đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng và BĐKH nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu chính là nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong bối cảnh BĐKH tại tỉnh Bến Tre. Công trình nghiên cứu có liên quan thực hiện trên Đồng bằng sông Cửu Long và địa bàn tỉnh Bến Tre Công trình “Đánh giá tính tổn thương đối với đất nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu cho các tỉnh ven biển đông Đồng Bằng Sông Cửu Long” được Thái Minh Tín và cộng sự thực hiện năm 2017 nghiên cứu các yếu tố và vùng NN bị tổn thương do tác động của BĐKH trên 8 mô hình SX NN gồm: Lúa 3 vụ, lúa 2 vụ, chuyên tôm, lúa-tôm, lúa màu, cây ăn quả, mía và cây màu. Đề tài còn trực quan hoá thông qua các bản đồ về diện tích đất NN của các tỉnh vùng ven biển của ĐBSCL, trong đó có Bến Tre qua các năm 2016, 2030, 2050.
Tuy đề tài của tác giả nghiên cứu đối tượng là cây trồng nhưng đất và cây trồng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, thế nên, tác giả sẽ chọn lọc và kế thừa những nhận định về tính tổn thương đối với đất NN trong điều kiện BĐKH của vùng và nhất là với tỉnh Bến Tre. Trên cơ sở đó làm nổi bật tính dễ bị tổn thương của cây trồng trước tình hình BĐKH.