CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN CAU TRUC TAI CHINH TRONG CAC DOANH NGHIEP NGANH XAY DUNG 1. Khái niệm chung về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Một trong những bước ngoặt về nghiên cứu cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp phải ké đến nghiên cứu của Franco Modigliani va Merton Miller (1958). Nhiều nghiên cứu sau này đã lấy kết quả nghiên cứu của Franco Modigliani va Merton Miller làm nền móng lý thuyết để đưa ra những nghiên cứu sâu hơn về CTTC trong doanh nghiệp. Theo đó, cấu trúc tài chính được tác giả định nghĩa là quan hệ tỷ lệ của nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu.
Theo Scott và Martin (1975), CTTC là tỷ lệ giữa von cô phần phổ thông (bao gồm cả giá trị của cô phiếu phổ thông cộng với lợi nhuận sau thuế và các khoản dự trữ thặng dư) trên tông tài sản. Trong nghiên cứu về các nhân tô tác động đên câu trúc tai chính năm 1979 của Ferri và Jones, tác giả đã định nghĩa CTTC là tỷ lệ tổng nợ trên tông tài sản theo giá trị số sách. Westerfield và Bradford D. Jordan (2003) cho rằng cấu trúc tài chính của một DN là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định dé tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
Nghiên cứu của Trần Thị Thanh (2011) cũng cùng quan điểm với nghiên cứu trên khi cho rằng thuật ngữ cấu trúc tài chính phản ánh mối quan hệ giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu phục vụ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, Macguigan va cộng sự (2006) lại cho rằng “cấu trúc tài chính là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, vốn cô phần ưu đãi và vốn cô phần thường được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của DN”. Trên thực tế, khi xem xét cấu trúc tài chính của DN, đặc biệt là các DN ở các nền kinh tế phát triển, DN có thé dé dàng tiếp cận nguồn vốn vay và các nước phát triển cũng có những chính sách tài trợ DN nhằm hỗ trợ DN thì CTTC thường được cho rằng hình thành bởi nguồn vốn dài hạn. Tuy nhiên, nguồn vốn tài trợ ở các DN ngoài các trái phiếu phát hành, các khoản nợ vay dài hạn thì còn có các khoản nợ vay ngắn hạn và các khoản nợ khác trong kinh doanh, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển thì khoản nợ ngắn hạn lại chiếm tỷ trọng cao trong CTTC của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, phân loại ngành cũng đóng vai trò quan trọng trong CTTC của DN. Nghiên cứu của Dung Thi Thuy Tran (2015) cho rằng có mức nợ cao hơn đối với các công ty thuộc các ngành Xây dựng, Vật liệu xây dựng, Bất động sản và Ngành khoáng sản, tiếp theo là Sản xuất, Thép, Nhựa và Bao bì. Do đó, dựa trên việc tổng hợp định nghĩa CTTC từ các nghiên cứu đi trước, CTTC cua DN trong phạm vi dé tai duoc hiéu 1a ty lệ giữa tổng nợ (nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) và tong tài san. Đặc diém các yếu tố cau thành cấu trúc tài chính của doanh nghiệp 1.1, Nợ phải trả Theo định nghĩa của Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01: Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện và giao dịch đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của minh.
Nợ phải trả là một bộ phận cấu thành nên CTTC. Nợ phải trả bao gồm hai loại nợ chính: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. + No ngan hạn: Là các khoản nợ ma DN phải có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh bình thường. Nợ ngắn hạn trong doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, thông thường là các khoản sau: nợ phải trả người bán, thuế và các khoản phải nộp nhà nước, ứng trước của khách hang, chi phí phải trả, tín dụng thương mại,.
Như vậy nợ phải trả ngăn hạn trong doanh nghiệp chủ yếu là các khoản nợ phải trả thông thường, được phan ánh trên bảng cân đối kế toán và được xác định chắc chắn về thời gian và giá trị. Nguồn vốn huy động này sẽ được DN huy động dé sử dụng tạm thời vào hoạt động sản xuất kinh doanh. + Nợ trung va dài han: Nợ trung và dài hạn là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên | năm, DN phải có trách nhiệm thanh toán nợ gốc và chi phí sử dụng vốn sau một thời hạn quy định. Khoản nợ này thường bao gốm các khoản sau: Vay dài hạn cho đầu tư phát trién, trái phiếu phát hành; Các khoản nhận ký quỹ, ký cược dai han,.
Do thời gian sử dụng vốn của 5 các khoản nợ này dài nên khoản nợ này thường được sử dụng đê tài trợ các dự án đâu tư dai han. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là phần còn lại của tổng tài sản sau khi trừ nợ phải trả và được xem như tài sản thuần của DN, bao gồm nguồn vốn do các bên đóng góp khi thành lập DN, vốn bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của DN và do tăng vốn. Do tính chất trách nhiệm hữu hạn của đa phần các DN nên về mặt pháp lý, với vốn chủ sở hữu (VCSH) thì DN không có trách nhiệm thanh toán cho chủ sở hữu phần góp vốn ban đầu và góp vốn bổ sung. Chủ sở hữu DN chỉ kỳ vọng vào kết quả SXKD của DN thông qua cô tức và hưởng loi từ việc gia tăng giá trị cô phiếu và chuyên nhượng cô phiếu.
Cho dù DN sử dụng nguồn vốn từ nợ vay hay từ nguồn VCSH cũng luôn phát sinh chi phí do việc sử dụng vốn. Đối với vốn từ nợ vay thì chí phí sử dụng vốn DN phải trả dưới hình thức lãi vay, đối với vốn VCSH thi chủ sở hữu DN phải trả chí phí sử dụng vốn dưới hình thức cô tức. Điểm khác biệt giữa chi phí sử dụng vốn do nợ và chi phí sử dụng VCSH là chi phí nợ được tính vào chi phí trước khi tính thuế thu nhập DN, còn chi phí sử dụng VCSH được xác định sau khi tính thuế thu nhập DN. Do vậy, nếu DN sử dụng nợ sẽ hưởng phần tiết kiệm từ thuế thu nhập DN.
Các chỉ tiêu phản ánh cầu trúc tài chính của doanh nghiệp Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, CTTC của doanh nghiệp được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu. Cụ thé, dé đánh giá và đo lường cấu trúc tài chính của DN, các thước đo đòn bẩy tài chính của DN thường được các nghiên cứu trước đây sử dụng, gồm: Hệ số nợ; Hệ sô nợ trên vôn chủ sở hữu; Hệ sô tự tài trợ. - Hệ sô nợ Chỉ tiêu này cho thấy mức độ sử dụng các nguồn vốn vay của DN, trong tổng tài sản DN thì vốn vay có tỷ trọng bao nhiêu. Dựa vào hệ số nợ, ta có thê đánh giá tình hình tài chính của một DN đề xem liệu DN đó có đang đối mặt với rủi ro về tài chính hay không.
Với các ngành nghé, lĩnh vực hoạt động khác nhau, hệ số nợ cũng thay đổi. Về lý thuyết, hệ sỐ nợ có thể được tính toán như sau: as 2 „ Tổng no phải trả Hệ số nợ tông quất = —————————— Tổng tài sản af g Nợ ngan hạn Hệ sô nợ ngăn hạn = —————— Tổng tài san Nợ dai hạn Hệ số nợ dai hạn = ————— Tổng tài sẳn Thông thường, nếu hệ số nợ tổng quát lớn hơn 50%, có nghĩa là các khoản nợ chiếm phần lớn trong tổng tai sản của DN, còn ngược lại nếu hệ số nợ tổng quát nhỏ hơn 50% thì tai sản của DN được tài trợ chủ yêu bởi nguôn von chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ thì cho thấy DN ít dựa vào nợ vay trong hoạt động kinh doanh nên ít phải đối mặt với các rủi ro tài chính. Hệ số nợ phụ thuộc vào ngành và hoàn cảnh cụ thê của công ty.
- Hệ sô nợ trên von chu sở hữu đo lường sô nợ ma một doanh nghiệp có so với von chủ sở hữu của nó. Hệ sô nợ trên von chủ sở hữu là một thước do tai chính phô biên được sử dụng đê đánh giá đòn bây tài chính của công ty hoặc mức độ mà công ty dựa vào nợ đê hoạt động. Hệ sô này được tính như sau: ˆ 4 ak > ean Tổng no phải tra Hệ so nợ trên von chủ sở hữu = — Von chủ sở hữu Hệ sô này lớn hơn | thay răng một công ty có nhiêu nợ hơn von chủ sở hữu, điêu này có thê khiên doanh nghiệp gặp nhiêu rủi ro hơn bởi mức vay nợ cao làm tăng chi phí lãi vay của công ty, điêu này có thê ảnh hưởng đên khả năng tạo ra lợi nhuận của công ty, và ngược lại - Hệ sô tự tai trợ phản ánh ty lệ von chủ sở hữu trong tông nguôn von của DN. Hệ sô này có giá trị càng lớn nghĩa là mức độ tự chủ tải chính băng vôn chủ sở hữu của DN càng cao do đó rủi ro của DN cảng thâp.
Hệ sô này được tính theo công thức sau: Vốn chủ sở hữu Hệ số tự tai tro. =———————— Tong nguon von Hệ sô tự tài trợ có giá trị càng lớn cho thây nguôn vôn của DN được câu thành phân lớn bởi vôn chủ sở hữu và chỉ một phân nhỏ là vôn vay. Nêu hệ sô này lớn hơn 50% tức là vốn thực góp của các cổ đông chiếm phần lớn trong nguồn vốn của DN. Ý nghĩa cia việc phân tích cấu trúc tài chính cia doanh nghiệp Phân tích, đánh giá cấu trúc tài chính DN sẽ giúp các đối tượng quan tâm đánh giá được những đặc trưng cơ bản về tình hình tài chính của các doanh nghiệp.
Đối với nhà quản tri DN, việc phân tích và đưa ra các nhân tô ảnh hưởng đến CTTC giúp các nhà quản trị DN đánh giá được cách tổ chức vốn này có phù hợp với tình trang DN và tình hình kinh tế hiện tại hay không; Từ đó DN có thể đưa ra những chính sách quản lý tài chính phù hợp hơn dé tránh những rủi ro cho DN. Đối với nhà đầu tư, nghiên cứu CTTC của các DN cũng cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư - những người đưa vốn của mình cho DN quản lý và sử dụng. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các nhà đầu tư xem xét khả năng quản lí tài chính của một DN trước khi đưa ra quyết định đầu tư.