CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VE ĐÁNH GIÁ TÁC DONG MOI TRƯỜNG CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. TONG QUAN VE DỰ ÁN DAU TƯ 1. Khái niệm về dự án đầu tư Khái niệm về dự án dau tư có thé được xem xét trên nhiều góc độ: Theo luật đầu tư năm 2014: “Dự án đâu tu là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động dau tư kinh doanh trên dia bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. ” Nhu vậy, về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hỗ sơ tài liệu trình bày một cách chỉ tiết và có hệ thong các hoạt động va các chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hóa, dự án đầu tư là một công cụ thé hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét trên góc độ này dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (Một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kì có thé thực hiện nhiều dự án). Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chỉ tiết cần thiết, được bồ trí theo một kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm xác định dé tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Một dự án đầu tư bao gồm 4 thành phần chính Thứ nhất là mục tiêu của dự án, được thé hiện ở hai mức là mục tiêu phát triển chung và mục tiêu trực tiép của chủ đâu tư. Mục tiêu phát triển thé hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của một quốc gia. Mục tiêu này được thể hiện hông qua những lợi ích dự án mang lại cho nên kinh tế xã hội. Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư là các mục tiêu cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án.
Mục tiêu này được thể hiện thông qua những lợi ích tài chính mà chủ đầu tư thu được từ dự án. Thứ hai là các kết quả. Do là những kết quả cụ thể , có thể định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết dé thực hiện các mục tiêu của dự án.
Thứ ba là các hoạt động của dự án. Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án dé tao ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và sự phân công trách nhiệm cụ thé của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. Thứ tư là các nguồn lực.
Về vật chat, về tài chính và con người cần thiết dé tiễn hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án. Đặc điểm của dự án đầu tư Các dự án đầu tư có những đặc điểm chung như sau: Dự án đầu tư có mục đích, mục tiêu, kết quả rõ ràng. Kết quả của một dự án đầu tuwphair đực xác định rõ ngay từ ban đầu.
Bản thân mỗi dự dán đầu tư bao gồm nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ có thể mang lại những kết quả độc lập và hướng dé đạt được mục đích chung, kết quả chung của dự án. Nói cách khác, dự án là một hệ thống phức tạp được chia ra thành nhiều bộ phận, phân hệ khác khau đề thực hiện quản lý nhưng đều phải thống nhất bảo đảm các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và hoàn thành với chất lượng tốt nhất có thể. Dự án có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạ.
Dự án là một sự sang tạo. Giống như các thực thể sống, dự án cũng phải trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu, có thời điểm kết thúc. Dự án không kéo ài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được trao cho bộ phận quản lý vận hành.
Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc. Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt mà có tính khác biệt cao. Sảm phẩm và dịch vụ do dự án mang lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. Tuy nhiên ở nhiều dự án tính duy nhất ít rõ rang hơn và bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng.
Dự án có liên quan đến nhiều bên và có tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phan trên cũng khác nhau. Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau.
Đề thực hiện thành công mục tiêu của dự án các nhà quản lý cần duy trì thường xuyên mỗi quan hệ với các bộ phận quan lý khác. Môi trường hoạt động dự án là môi trường “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tô chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tô chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị.
Trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai mệnh lệnh mâu thuẫn nhau. Do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động. Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao. Hau hết các dự án đòi hỏi qui mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn đề thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường cáo độ rủi ro cao 1. Vai trò của dự án dau tw Một dự án đầu tư khi được thực hiện có vai trò hết sức quan trọng đối với các bên tham gia: từ Nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tài trợ, công đồng, đối tượng hưởng dự án. Đối với quản lý Nhà nước và các định chế tài chính, dự án đầu tư là cơ sở để thấm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư, thâm định dé chấp thuận sử dụng vốn nha nước, dé ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ cho dự án. Đối với chủ đầu tư, dự án là căn cứ quan trọng dé quyét định bỏ vốn dau tư, là cơ sở dé xin phép được đầu tư (hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư) và cấp giấy phép hoạt động.
Dự án dau tư là cơ sở dé xin phép nhập khâu máy móc thiết bi, xin hưởng các khoản ưu đãi trong đầu tư, là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư, là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn, là căn cứ quan trọng để xem xét giải quyết các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nước Việt Nam. Đây cũng là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các nên tham gia liên doanh. Đối với tổ chức tài trợ vốn, dự án đầu tư là căn cứ dé cơ quan này xem xét tình khả thi của dự án dé quyết định nên tài trợ hay không, tài trợ đến mức độ nào cho dự án dé đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tai trợ. Đối với việc hoạch định phát triển, dự án là công cụ dé triển khai thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược, quy hoạch và kế hoạch 5 năm, chương trình phát triển một cách có hiệu quả nhất.
Việc thực hiện các dự án là phương tiện dé gan két ké hoach và thị trường, nâng cao tính khả thi của kế hoạch, đồng thời đảm bảo khả năng điều tiết thị trường theo định hướng xác định của kế hoạch. Trong phát triển kinh tế xã hội dự án góp phần giải quyết quan hệ cung cầu về vốn và giải quyết quan hệ cung cầu về sản phẩm và dịch vụ trên thị trường. Dự án góp phần cải thiện đời sống dân cư và cải tiến bộ mặt kinh tế xã hội của từng vùng và của cả nước, tạo tiền đề cho các công ty, doanh nghiệp phát triển. Do dự án có vai trò quan trọng như vậy nên dự án phát triển chiếm vị trí cốt yêu trong hệ thống kế hoạch hoá, trong chiến lược phát triển của công ty, của vùng, của cả nước.
Nó là công cụ dé triển khai nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch với hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm và đặc trưng cua dự an dau tư xâu dựng Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng được nếu trong Điều 3, Luật Xây dựng 2014 có nêu: “Dự án dau tư xây dựng là tập hợp các dé xuất có liên quan đến việc sử dụng von để tiễn hành hoạt động xây dựng để xây dung mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nham phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chỉ phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án dau tư xây dựng, dự án được thé hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dau tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật dau tư xây dung”.