CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận chung về Kiểm toán nội bộ 1. Khái niệm Kiểm toán nội bộ KTNB ra đời, phát triển do yêu cầu quản lý và phục vụ trực tiếp cho quản lý, là một công cụ quản lý phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với hoạt động kinh tế của con người. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đã có những khái niệm khác nhau về KTNB.
Mỗi quan niệm phản ánh một giai đoạn, theo đó là một mức độ phát triển tương ứng của lĩnh vực này. Tuy nhiên, đến nay chỉ có hai định nghĩa KTNB chính thức được qui định trong “Các chuẩn mực nghề nghiệp KTNB” và “Tuyên bố về trách nhiệm của kiểm toán viên nội bộ” do Viện Kiểm toán viên nội bộ quốc tế (IIA) ban hành, lần đầu vào năm 1978, và lần sau - gần đây nhất vào năm 1999 (IIA là tổ chức nghề nghiệp dành cho kiểm toán viên nội bộ thành lập năm 1941 có trụ sở chính tại Hoa Kỳ và hơn 122.000 hội viên trên toàn cầu).1: Định nghĩa KTNB qua các thời kỳ Định nghĩa năm 1978 Định nghĩa năm 1999 KTNB là một chức năng xác KTNB là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập minh độc lập được thiết lập bên trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và trong một tổ chức để xem xét, làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. đánh giá các hoạt động với tư Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh cách là một sự hỗ trợ đối với tổ giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính chức. hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro.
Rõ ràng chức năng và vai trò của KTNB đã được nâng lên một bậc, không còn là hỗ trợ đơn thuần mà thế giới đã khẳng định vai trò tư vấn và đánh giá của KTNB trong tổ chức, giúp cho tổ chức hoạt động ngày càng hiệu quả. Năm 2011, NHNN Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về KTNB như sau:“KTNB là việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”. Theo ủy ban Basel về giám sát ngân hàng và nâng cao chất lượng giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn cầu hệ thống giám sát hoạt động được hình thành trên cơ sở hệ thống KTNB và kiểm tra nội bộ. Hệ thống kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ là hệ thống cấu thành nên chức năng giám sát quản trị phòng ngừa rủi ro cho đơn vị.
Kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Trên cơ sở đó, kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ đều chung một mục đích là góp phần giảm thiểu rủi ro cho đơn vị, tuy nhiên lại có một vài điểm khác nhau như sau: Bảng 1.2: Kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ Chỉ tiêu Kiểm toán nội bộ Kiểm soát nội bộ Định nghĩa Là hoạt động đánh giá và tư vấn Là tập hợp các cơ chế, chính sách, độc lập trong nội bộ tổ chức quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức Vị trí Là bộ phận tách biệt, hoạt động Nằm ngay trong từng bộ phận, độc lập chức năng của tổ chức Thời gian Thực hiện đánh giá một cách định Hoạt động thường xuyên kỳ hoặc đột xuất Lãnh đạo Tùy mỗi đơn vị mà trực thuộc sự Thuộc sự chỉ đạo của Ban điều chỉ đạo của Ban điều hành hành/HĐQT/BKS Báo cáo Thực hiện báo cáo cả Ban điều Báo cáo cho đối tượng quản lý hành/HĐQT/BKS trực tiếp 1. Tính tất yếu khách quan của KTNB Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên tăng trưởng và đầu tư chưa từng có. Làn sóng đầu tư ngày càng mạnh mẽ thì nhu cầu kiểm soát tại các doanh nghiệp cũng ngày càng gia tăng, về hình thức cũng như thực chất, về số lượng cũng như chất lượng.
Ban lãnh đạo, BKS, phòng KTNB của hàng trăm ngàn doanh nghiệp cả nước ngày càng đối diện với thách thức. Họ không ngừng phải nâng cao kỹ năng và nghiệp vụ, chuẩn hóa quy trình chuyên môn để đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống kiểm soát hoàn chỉnh, vững mạnh vị bộ phận này ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với doanh nghiệp. Bản thân KTNB là tất yếu khách quan giúp cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý thực hiện tốt việc lãnh đạo điều hành pháp luật đúng theo hành lang pháp lý, tôn chỉ, mục đích và chiến lược phát triển của đơn vị, góp phần cho hoạt động của đơn vị được tốt hơn, hiệu quả hơn. Là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý doanh nghiệp, rõ ràng KTNB đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích.
Nhờ đó mà Ban giám đốc và HĐQT có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn một khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát trực tiếp của một nhóm người. Có KTNB như thêm “tai, mắt” cho HĐQT và Ban giám đốc. Điều này làm tăng niềm tin của cổ đông vào chất lượng quản lý và KSNB, tăng giá trị doanh nghiệp. Việc xác lập và duy trì một hệ thống kiểm soát, kiểm tra, KTNB thích hợp với nhiều quy chế giám sát để quản lý và điều hành doanh nghiệp được tốt hơn, là bổn phận quản lý điều hành của các nhà lãnh đạo các tổ chức đó.
Bất kỳ lĩnh vực hoạt động kinh doanh nào muốn được an toàn để tồn tại và phát triển, bên cạnh việc quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thì không thể không chú trọng đến công tác quản lý nội bộ mà trong đó KTNB đóng vai trò quan trọng trong mắt xích này. Hoạt động kinh doanh của các TCTD là một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm và đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế để đảm bảo lợi ích của quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước, nhưng hoạt động này lại chứa đựng và bao hàm quá nhiều rủi ro, nhiều tiêu cực và có sức ảnh hưởng lớn lao với nền kinh tế khi phát sinh những hoạt động tiêu cực của một bộ phận nhỏ cán bộ ngân hàng cũng như những thất thoát to lớn khi thực hiện không đúng hành lang pháp lý. Bởi vậy, để đảm bảo cho từng hoạt động của ngân hàng được làm đúng theo quy định đều cần có sự kiểm tra lại. Và KTNB chính là mắt xích quan trọng cùng với hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại song song để tạo cho việc thực hiện quy định được đúng hoặc hoàn thiện đúng.
Đặc điểm của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Giáo trình NHTM của trường Đại học Kinh tế Quốc dân định nghĩa: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Hiện nay ở Việt Nam có các bốn loại hình NHTM được phân chia theo loại hình như sau: - NHTM quốc doanh: Được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước. NHTMCP Ngoại thương Việt Nam đã cổ phần hóa nhưng theo NHNN vẫn được xếp vào loại này do có vốn nhà nước chiếm trên 50%.
- NHTMCP được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Ở Việt Nam hiện nay NHTM cổ phần đang chiếm phần lớn. - NHTM liên doanh được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là NHTM Việt Nam với bên khác là Ngân hàng TM nước ngoài có trụ sở đặt tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam. - NHTM có 100% vốn nước ngoài được thành lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
Theo thống kê hiện nay, Bảng 1.3: Các NHTM theo thống kê của NHNN đến tháng 6 năm 2014 Loại hình ngân hàng thương mại Số lượng NHTM quốc doanh 3 NHTM Cổ phần 37 NHTM liên doanh 5 NHTM 100% vốn nước ngoài 5 (Nguồn:www. Chức năng của ngân hàng thương mại Là một trung gian tài chính, chức năng chủ yếu của NHTM tập trung chủ yếu ở ba chức năng chính như sau: - Chức năng trung gian tài chính:NHTM đóng vai trò là thủ quỹ của xã hội, vai trò trung gian khi thực hiện các nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều nghiệp vụ môi giới khác. - Chức năng tạo tiền: Từ khoản tích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay, hệ thống NHTM có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. - Chức năng sản xuất: Là việc NHTM có thể huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra sản phẩm, dịch vụ cho nền kinh tế.
Rủi ro trong hoạt động của các NHTM Rủi ro trong ngân hàng được phân loại dựa vào 5 loại rủi ro chính để từ đó có thể phân chia các bộ phận riêng biệt quản lý các loại rủi ro này và đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, cụ thể như sau: - Rủi ro tín dụng: Là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng bới bất kỳ lý do nào. - Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu, hoặc không hoạt động hay do các hoạt động bên ngoài. Nguyên nhân chính là con người, hệ thống thông tin, quy trình và do khách quan. - Rủi ro thanh khoản: Là khả năng ngân hàng không có đủ vốn khả dụng (cung thanh khoản) với chi phí hợp lý và đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng nhu cầu thanh khoản).