PHẦN MỞ ĐẦU Bơi lội là một môn thể thao hấp dẫn và được nhiều người ở mọi lứa tuổi yêu thích. Với nhiều ưu điểm như tạo sự cân đối cho người tập, hầu như không gây chấn thương khi tập luyện, rất tốt cho hoạt động tim mạch và giúp giảm stress, bơi lội là một môn thể thao có thể tập luyện suốt đời. [69, 70] Bên cạnh tính ưu việt như một phương tiện rèn luyện sức khỏe, bơi lội còn là một trong những kỹ năng cơ bản của mọi người trong cuộc sống. Người xưa có câu: “Có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo” cho thấy việc biết bơi lội quan trọng như thế nào, vì nó liên quan đến mạng sống của con người.
Tại các nước tiên tiến, bơi lội được đưa vào giảng dạy tại các trường và là một trong những điều kiện cần có để tốt nghiệp. Ở nước ta, bơi lội chưa được đưa vào giảng dạy trong các trường học như một nội dung bắt buộc. Trong khi đó, các thông tin về đuối nước trên khắp mọi miền đất nước đã trở thành mối quan tâm chung của cả cộng đồng. Thống kê của cơ quan chức năng trong nước, trung bình mỗi ngày có không dưới 9 trẻ em bị đuối nước.
Trong đó, trên 50% các trường hợp đuối nước xảy ra ngoài trời khi trẻ tắm sông, hồ và tắm biển. Tỷ lệ đuối nước ở trẻ em Việt Nam rất cao, chiếm 22,6% (trong đó trẻ dưới 15 tuổi là 70%), chỉ đứng sau tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông 26,7%. Có thể nói, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong với trẻ em và trẻ vị thành niên, tuy nhiên theo Bộ Y tế số trẻ tử vong do tai nạn này vẫn không ngừng tăng. Thống kê cho thấy, khu vực đồng bằng sông Sông Hồng, hầu hết trẻ tử vong do đuối nước dưới 5 tuổi và thường do bị ngã xuống nước từ trên nhà, trên thuyền hoặc cầu tàu.
Còn tại các tỉnh miền Trung và Tây nguyên, hầu hết trẻ bị đuối nước trên 6 tuổi khi đang chơi gần hồ hay suối sâu. Ở các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ, đuối nước trẻ em ở độ tuổi khác nhau xảy ra quanh năm, do khu vực này thuộc vùng trũng, ao đầm, sông ngòi liền sát với khu dân cư. 2 Nguyên nhân chủ yếu của các vụ đuối nước là do sự bất cẩn, xao nhãng của người lớn và do các em thiếu kỹ năng bơi lội. Theo kết quả điều tra của Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNICEF), trung bình mỗi năm, ở Việt Nam có khoảng trên 7.000 trẻ em bị đuối nước, nhất là vào những tháng nghỉ hè, tỷ lệ trẻ đuối nước càng tăng cao.
Trước thực trạng tử vong do đuối nước gia tăng, từ năm 2010 Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan chức năng đã lên kế hoạch phổ cập bơi cho trẻ em. Chủ trương được dư luận rất hoan nghênh, song các trường thì rất khó để triển khai do không có chỗ để học bơi. Hoặc đã triển khai thì việc một giáo viên phải quản 15-20 học sinh, thậm chí 30-40 học sinh trong một tiết học là thực sự quá tải. Còn nhân viên hồ bơi cũng thiếu, lúc có lúc không.
Với số lượng học sinh đông, nếu có sự cố xảy ra, giáo viên khó có thể kịp xoay trở để xử lý. Để hạn chế tình trạng đuối nước ở trẻ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội kêu gọi cộng đồng phổ cập kỹ năng sơ cấp cứu trẻ em bị đuối nước cho mạng lưới y tế cơ sở và đội ngũ cộng tác viên phòng, chống tai nạn thương tích tại cộng đồng. Bên cạnh đó, các địa phương cần triển khai chương trình phổ cập bơi cho trẻ, dạy kỹ năng sống và kỹ năng an toàn dưới nước, từng bước đưa môn bơi an toàn vào trong trường học một cách rộng rãi, đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ cập bơi… Tại thành phố Hà Nội, bơi lội là một trong các môn thi đấu của học sinh các cấp trong các kỳ Hội khỏe Phù Đổng hàng năm. Tuy nhiên, lực lượng dự thi môn bơi lội đa phần là học sinh tập luyện “chuyên nghiệp” tại các CLB bơi lội trong thành phố.
Ở cấp độ quận huyện, phong trào phổ cập bơi được các CLB bơi lội quan tâm và chú trọng. Một số CLB đã thực hiện tốt các lớp phổ cập bơi hè và phối hợp tốt với các trường nằm gần địa bàn để tổ chức các lớp xóa mù bơi. Tuy nhiên, việc tổ chức các lớp phổ cập bơi vẫn còn nhiều hạn chế về mặt giáo án, phương pháp tổ chức và còn tùy thuộc vào sự phối hợp giữa 3 ngành TDTT và Giáo dục – Đào tạo ở từng nơi. Hiện nay, một số bộ môn thể thao đã đưa vào giảng dạy (ở mức độ khác nhau) tại các trường trên địa bàn thành phố như bóng đá mini, tennis, võ thuật, cờ, thể dục, điền kinh… song bơi lội vẫn chỉ là môn được “thí điểm” rải rác tại một số quận huyện chứ chưa có một chủ trương chung từ cấp thành phố, nguyên nhân một phần là do bộ môn bơi lội thành phố vẫn chưa tham mưu được một khung chương trình, giáo án hoàn chỉnh cho các cấp học.
Có thể khẳng định việc phổ cập bơi cho học sinh là vô cùng cần thiết, tuy nhiên ngành giáo dục vẫn chưa đưa môn bơi là môn bắt buộc. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do thiếu thốn bể bơi và đội ngũ giáo viên giảng dạy. Về dự án chống đuối nước cho học sinh có sự kết hợp giữa Bộ GD-ĐT, Trung ương đoàn Thanh niên và Liên đoàn, Hiệp hội thể thao dưới nước Việt Nam mới chỉ dự kiến tổ chức. Vai trò chủ động của các trường tiểu học cũng chưa được phát huy, phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc tổ chức các lớp học bơi cho các em học sinh cũng còn rất hạn chế.
Ở thành phố Hà Nội, một số quận huyện đã triển khai “Đề án phổ cập bơi cho học sinh Tiểu học” như: huyện Thanh Trì và quận Cầu Giấy đã tiến hành phổ cập bơi cho học sinh tiểu học; các trường Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân đã triển khai phổ cập bơi cho học sinh lớp 5 và rà soát, xây dựng kế hoạch tổ chức phổ cập bơi cho học sinh lớp 4 năm học 2015 – 2016. Quan sát các buổi phổ cập bơi, chúng tôi thấy rằng một khóa bơi thường tiến hành tối đa là từ 10 đến 12 ngày, mỗi buổi tập 1 giờ. Sau khi hoàn thành khóa học, học sinh biết bơi 25 mét song mức độ kỹ thuật còn hạn chế. Quan sát công tác giảng dạy của các giáo viên dạy bơi, chúng tôi thấy rằng nội dung tập luyện bơi là hoàn toàn do giáo viên quyết định và chưa có chương trình phổ cập bơi cho học sinh tiểu học một cách thống nhất.
Về các công trình nghiên cứu có liên quan cho thấy: Phổ cập bơi ở giai đoạn phổ cập và phát triển thể lực cho VĐV nói chung, thể lực chuyên môn nói riêng và nhiều lĩnh vực khác cho VĐV bơi lội đã được nhiều tác giả trong và 4 ngoài nước quan tâm nghiên cứu như: Bungacova (1983) [8], Yasaki (1999) [90], Chu Thái Xương (1989, 1996) [88], Nguyễn Văn Trạch (2003), Đào Trọng Kiên (2015) [36]. Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã bổ sung rất lớn các cơ sở lý luận và thực tiễn trong huấn luyện bơi lội. Mặc dù các cơ sở lý luận, phương pháp giảng dạy và huấn luyện bơi đã được các tác giả đề cập, song việc xây dựng chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi nói chung và tại thành phố Hà Nội nói riêng hiện chưa được tác giả nào quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9 - 11 tuổi thành phố Hà Nội” Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài tiến hành xây dựng chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao hiệu quả phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi tại thành phố Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên, đề tài xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau: Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi thành phố Hà Nội. Nhiệm vụ 2: Xây dựng chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi thành phố Hà Nội. Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi thành phố Hà Nội. Giả thuyết khoa học: Nguyên nhân dẫn đến dẫn đến tình trạng nhiều học sinh 9-11 tuổi Hà Nội chưa đạt được các kỹ năng bơi và an toàn dưới nước, cùng khả năng ứng biến một cách an toàn và tự tin trong, trên hoặc xung quanh nước là do chưa có sự 5 thống nhất về chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi Hà Nội một cách khoa học.
Điều này dẫn đến hiệu quả phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi chưa đạt được kết quả như mong muốn. Vì vậy, việc xây dựng được chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi thành phố Hà Nội dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn sẽ nâng cao hơn nữa kỹ năng bơi cho học sinh nói riêng và đáp ứng được mục tiêu phòng chống đuối nước cho trẻ em. Ý nghĩa khoa học của luận án: Qua quá trình nghiên cứu luận án đã hệ thống hóa và bổ sung hoàn thiện các kiến thức lý luận về các vấn đề liên quan như: Định hướng đổi mới nội dung chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi ở thành phố Hà Nội; Nguyên tắc xây dựng nội dung chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9- 11 tuổi ở thành phố Hà Nội; Đánh giá chương trình dạy bơi cho học sinh 9-11 tuổi ở thành phố Hà Nội. Các nội dung này khi phân tích có sự gắn liền với việc phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi ở thành phố Hà Nội.
Ý nghĩa thực tiễn của luận án: Quá trình nghiên cứu đã xây dựng được chương trình phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi ở thành phố Hà Nội, có ý nghĩa thực tiễn trong nâng cao hiệu quả phổ cập bơi cho học sinh 9-11 tuổi tại thành phố Hà Nội. Chương trình xây dựng và triển khai đáp ứng được nhu cầu tập luyện bơi cho học sinh 9-11 tuổi tại thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.